Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về lợi nhuận và khả năng sinh lời của doanh nghiệp 1. Khái niệm, ý nghĩa và cách xác định lợi nhuận trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về lợi nhuận Khái niệm lợi nhuận luôn là một vấn đề cốt lõi trong lý thuyết kinh tế học.
Xuất phát từ bản chất của lợi nhuận trong nền kinh tế nói chung hay tại các doanh nghiệp nói riêng, nội dung của khái niệm lợi nhuận luôn có những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữa quan điểm của các nhà kinh tế học. William petty (1623-1687) đã tìm thấy nguồn gốc của địa tô trong lĩnh vực sản xuất. Ông định nghĩa địa tô là số chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm và chi phí sản xuất (bao gồm chi phí tiền lương và chi phí giống má). Thực ra ông không rút ra được lợi nhuận của kinh doanh ruộng đất, không trực tiếp đề cập đến vấn đề bóc lột.
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và trên thế giới. Theo ông lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của lao động. Ông cho rằng lợi nhuận là do toàn bộ tư bản đẻ ra, lợi nhuận là một trong những nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập cũng như mọi giá trị trao đổi. Ricardo đã xem lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân.
Ông chưa biết đến phạm trù giá trị thặng dư, nhưng trước sau nhất quán quan điểm cho rằng giá trị do công nhận tạo ra lớn hơn số tiền mà họ nhận được. Ông coi lợi nhuận là lao động không được trả công cho công nhân. Qua những quan điểm trên ta đúc kết được Lợi nhuận (Profit) là chỉ số thể hiện sự chênh lệch giữa doanh thu của doanh nghiệp và các chi phí đầu tư, phát sinh của các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế, đó chính là chỉ số dùng để phản ánh rõ nhất tình hình kinh doanh của một doanh nghiệp.
Đồng thời, yếu tố này cũng trở thành cơ sở để để làm nền tảng đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Ý nghĩa của lợi nhuận Đối với doanh nghiệp 8 Thứ nhất, Lợi nhuận của doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng đánh giá khách quan tình hình phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ số này cho thấy doanh nghiệp này có đang kiếm tiền tốt hay không, nguồn thu có đảm bảo nhiều hơn những khoản đã chi hoặc tình hình lợi nhuận có ổn định qua từng giai đoạn không. Từ số liệu đó, doanh nghiệp có thể đánh giá và xây dựng chiến lược kinh doanh và điều chỉnh sao cho phù hợp nhất.
Thứ hai, Lợi nhuận cũng là cơ sở đảm bảo cho việc tái sản xuất của mỗi doanh nghiệp. Khi hoạt động kinh doanh sinh ra lãi, doanh nghiệp sẽ có được 1 khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Và họ sẽ dùng số tiền ấy để bổ sung vào nguồn vốn tái đầu tư, từ đó doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô hoạt động hoặc đổi mới trang thiết bị phục vụ cho sản xuất…Lợi nhuận ổn định cũng giúp doanh nghiệp giữ vững được vị thế của mình trên thị trường và giúp việc vay vốn bên ngoài của họ trở nên dễ dàng hơn. Thứ ba, lợi nhuận có vai trò nhất định trong việc tiết kiệm chi phí.
Nó giúp nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp bằng cách dùng lợi nhuận để đầu tư mua sắm cũng như nâng cấp tài sản cố định, dây chuyền sản xuất; tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học- công nghệ, áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến và hiện đại. Việc tận dụng sự tiến bộ của KH-CN đồng thời giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí nhân công từ đó hạ giá thành sản phẩm. Đối với người lao động Khi lợi nhuận của doanh nghiệp cao người lao động sẽ được đãi ngộ nhiều quyền lợi như mức lương cao, tiền thưởng nhiều, trích lập các quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng, thanh toán bảo hiểm, tăng tiền trợ cấp và các phúc lợi cho người lao động. Từ đó, độ tin cậy của người lao động đối với doanh nghiệp cũng tăng cao và họ sẽ hoạt động nỗ lực hơn trong công việc tạo ra lợi nhuận dẫn đến hiệu suất của doanh nghiệp cũng tăng cao.
Đối với nền kinh tế 9 Lợi nhuận là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế chung của mỗi quốc gia. Hiểu đơn giản, khi các doanh nghiệp đều làm ăn phát đạt có lợi nhuận cao thì nền kinh tế đất nước cũng phát triển vững mạnh hơn. Đó là dấu hiệu đáng mừng, là niềm mong mỏi của mọi quốc gia trên thế giới này. Thứ nhất, chỉ khi các doanh nghiệp thu được lợi nhuận thì Nhà nước mới có thể tiến hành thu thuế.
Khi doanh nghiệp có nguồn lợi nhuận cao đồng nghĩa với mức thuế nộp cũng sẽ cao hơn. Đó là sự đóng góp cần thiết để tạo nên ngân sách quốc gia. Từ khoản thu này sẽ giúp cho quốc gia tạo nên ngân sách góp phần xây dựng mục đích công cộng có thêm nguồn kinh phí cần thiết để duy trì, vận hành và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước nhằm mục đích ổn định và phát triển xã hội. Thứ hai, lợi nhuận giải quyết tình trạng thất nghiệp góp phần ổn định an ninh xã hội.
Khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh thì cũng cần thêm nguồn nhân lực, điều đó có nghĩa là nền kinh tế sẽ giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập bình quân đầu người GDP, tăng chỉ số hạnh phúc của đất nước. Cách xác định lợi nhuận Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận với những bên có nhu cầu như khách hàng, đối tác,… cũng như trong các hoạt động thương mại, trao đổi. Chính vì vậy, rất nhiều doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô hoạt động của mình sang nhiều lĩnh vực khác nhau. Lợi nhuận của doanh nghiệp do đó có thể được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau.
Tuy nhiên về cơ bản, lợi nhuận bao gồm 2 bộ phận chính: - Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh - Lợi nhuận khác Để đánh giá được tình hình lợi nhuận của một doanh nghiệp chúng ta cần nắm rõ và chi tiết hơn về kết cấu của mỗi loại lợi nhuận. a, Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh được xác định theo công thức: 10 LNT Chi Chi DTT từ DT từ = + - GVHB - CPBH - phí - phí BH&CCDV HĐTC HĐKD QLDN HĐTC Trong đó: • DTT từ BH & CCDV: Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ - Là toàn bộ doanh thu từ việc tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu - Công thức xác định: DTT từ DT từ Các khoản = - BH&CCDV BH&CCDV giảm trừ DT Trong đó: DT từ BH & CCDV: Tổng doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ Các khoản giảm trừ doanh thu: Có tính chất làm giảm doanh thu: + Giảm giá hàng bản: Là khoản mà người bán giảm giá cho người mua do một số lí do như chất lượng hàng hoá không đảm bảo hay sản phẩm không đúng quy cách như trong hợp đồng hoặc thoả thuận mua bán. + Chiết khấu thương mại: Là một khoản mà bên người bán giảm trừ hoặc thanh toán cho người mua do đã mua hàng với số lượng lớn. + Hàng bán bị trả lại: Là số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm hợp đồng, chất lượng sản phẩm kém, không đúng chúng loại, quy cách.
DT từ HĐTC (Doanh thu từ hoạt động tài chính): Là doanh thu có được từ các hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh vốn như: lãi tiền gửi ngân hàng, lãi từ góp vốn liên doanh liên kết, lãi đầu tư chứng khoán, lãi đầu tư ngắn hạn và dài hạn khác, chiết khấu thanh toán được hưởng. Giá vốn hàng bản 11 - Là toàn bộ chi phí ban đầu phải bỏ ra để có được hàng hoá bán ra, thể hiện trị giá gốc của hàng hoá, dịch vụ đã được tiêu thụ. Bản chất của khoản mục này là một khoản mục chi phí, có tác động ngược chiều với lợi nhuận của doanh nghiệp và thường là khoản chi phí lớn nhất. Do vậy các doanh nghiệp luôn nỗ lực tìm cách kiểm soát khoản mục này nhằm giảm giá thành sản phẩm, gia tăng lợi nhuận nhưng đồng thời vẫn phải đảm bảo chất lượng hàng hoá, dịch vụ cung ứng ra thị trường.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất: Giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí trực tiếp được dùng để tạo ra sản phẩm, hàng hoá, bao gồm: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp + Chi phí nhân công trực tiếp + Chi phí sản xuất chung - Đối với các doanh nghiệp thương mại: Giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí bỏ ra để mua hàng hoá, bao gồm giá mua và tất cả những chi phí liên quan như chi phí vận chuyển,. - Đối với các doanh nghiệp dịch vụ: Giá vốn là toàn bộ chi phí phải bỏ ra để có thể sẵn sàng cung cấp dịch vụ đến khách hàng. • Chi phí bán hàng: Là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thu hàng hoá, phục vụ trực tiếp cho hoạt động bán hàng như chi phí phát hành, chi phí lương, phụ cấp trả cho nhân viên bán hàng, chi phí quảng cáo, chi phí thuê địa điểm bán hàng, chi phí đóng gói, bảo quản hàng hoá,. • Chi phí QLDN: Chi phí quản lý doanh nghiệp - Là các khoản chi phí liên quan đến công tác quản lý hành chính, quản lý kinh doanh và các chi phí chung khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.
• Chi phí HĐTC: Chi phí hoạt động tài chính - Là các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp. 12 - Bao gồm chi phí vay vốn, chi phí mua bán ngoại tệ, lỗ đầu tư chứng khoán, lỗ do các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn khác, lỗ do góp vốn liên doanh,.