CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hoạt động kinh doanh là việc đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ do các chủ thể kinh doanh thực hiện một cách độc lập, với mục đích chính là tạo ra lợi nhuận. Nó bao gồm nhiều lĩnh vực như tài chính, thông tin, giải trí, sản xuất công nghiệp, bán lẻ, phân phối, và vận tải.
Hoạt động kinh doanh không chỉ hướng đến việc kiếm lợi nhuận mà còn là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế. Hiệu quả kinh doanh là một chỉ số quan trọng đánh giá mức độ thành công của một doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn lực để tạo ra lợi nhuận. Nói cách khác, đây là tỷ lệ giữa lợi ích thu được từ hoạt động kinh doanh so với chi phí và nguồn lực đã bỏ ra. Hiệu quả kinh doanh có thể được đo lường thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như năng suất lao động, hiệu quả tài chính, tỷ suất lợi nhuận, và hiệu quả vận hành và quy trình.
Một doanh nghiệp được coi là hoạt động hiệu quả khi có khả năng biến đổi nguồn lực như lao động, vật liệu, và vốn thành sản phẩm và dịch vụ một cách tối ưu, từ đó tạo ra lợi nhuận cao và đảm bảo sự phát triển bền vững. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế được nghiên cứu từ rất sớm, nó bắt đầu được tìm hiểu từ thế kỷ thứ XVIII bởi các nhà kinh tế học trên toàn thế giới. Cho đến hiện tại cũng đã có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh doanh được đưa ra, dưới đây là một vài quan điểm khác nhau được đưa ra. Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Trong quan điểm này nhà kinh tế người Anh đã đánh đồng hiệu quả và kết quả mà thật ra giữa chúng có sự khác biệt. Theo ông thì các mức chi phí khác nhau mà mang lại cùng một kết quả thì có hiệu quả như nhau. Như vậy Adam Smith mới chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra mà chưa quan tâm đến các yếu tố đầu vào. Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất.
5 Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Đồng tình với quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh". Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế. Góc nhìn nhận này đã cho thấy mối quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí, việc đạt được hiệu quả kinh doanh còn phụ thuộc vào cách mà doanh nghiệp sử dụng hợp lý các nguồn lực bỏ ra.
Tuy nhiên quan điểm này lại chưa cho thấy mối quan hệ ràng buộc và tác động qua lại giữa hai đại lượng. Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Đó là hiệu quả tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả tính bằng đơn vị giá trị. Khái niệm hiệu quả tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là cách một tổ chức sử dụng các nguồn lực của mình (như thời gian, tiền bạc, nhân lực) để đạt được mục tiêu kinh doanh một cách thông minh và có hiệu suất cao nhất. HQKD có thể được đo đạc thông qua nhiều chỉ số khác nhau, bao gồm lợi nhuận, tỷ suất sinh lời, tăng trưởng doanh số, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, và nhiều yếu tố khác. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh: so sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được. Nâng cao HQKD được hiểu là làm cho các chỉ tiêu đo lường HQKD của doanh nghiệp tăng lên thường xuyên và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực.
Tuy nhiên, để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù HQKD vào việc xác lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN thì cần làm rõ những vấn đề sau: 6 Thứ nhất, phạm trù HQKD thực chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp. Về mặt so sánh tuyệt đối thì HQKD là: H=K-C Trong đó: H: HQKD K: kết quả đạt được C: chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào Còn về so sánh tương đối thì: H = K/C Do đó, để tính được HQKD của DN, phải tính toán kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Thứ hai, phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định.
Các mục tiêu xã hội thường là: giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xã hội, phạm vi từng khu vực, nâng cao trình độ văn hóa, nâng cao mức sống, đảm bảo vệ sinh môi trường…Hiệu quả kinh tế có nội dung rộng hơn, nó không chỉ bao hàm về kết quả kinh tế mà mà cả kết quả xã hội đạt được tức là hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.Trong khi đó hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế chỉ phản ánh trình độ khai thác nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, nói cách khác hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ là một bộ phận của hiệu quả kinh tế. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm của toàn xã hội. Thứ ba, so sánh hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài: xét về tính lâu dài thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận và các chỉ tiêu về doanh lợi. 7 Xét về tính hiệu quả trước mắt thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu hiện tại mà doanh nghiệp đang theo đuổi.
Trong thực tế, để thực hiện mục tiêu bao trùm lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, có rất nhiều doanh nghiệp hiện tại không đạt được mục tiêu là lợi nhuận mà lại thực hiện các mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của doanh nghiệp, mở rộng thị trường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu…Do đó, các chỉ tiêu hiệu quả ở đây về lợi nhuận là không cao nhưng chỉ tiêu có liên quan đến các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp là cao thì không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động không có hiệu quả. Vai trò của việc phân tích hiệu quả kinh doanh a. Đối với bản thân doanh nghiệp Việc phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quản lý và phát triển doanh nghiệp. Dưới đây là một số điểm nổi bật về vai trò của việc phân tích này, trước hết là đối với chính bản thân doanh nghiệp.
Thứ nhất, phân tích hiệu quả kinh doanh giúp doanh nghiệp tự đánh giá được thực trạng, thế mạnh, và điểm yếu của mình một cách kịp thời, từ đó củng cố và phát huy hoặc khắc phục và cải tiến quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để có thể tiếp cận thêm tệp khách hàng mới cũng như giữ được chân khách hàng cũ. Thứ hai, việc phân tích này còn giúp doanh nghiệp biết được hiệu quả của từng chỉ tiêu bộ phận, hiệu quả của tài sản, hiệu quả của nguồn vốn, nguồn lực. Từ đó có thể khai thác tối đa các nguồn lực và tiềm năng có sẵn để đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Thứ ba, dựa vào các yếu tố ngành, môi trường, phân tích hiệu quả kinh doanh giúp doanh nghiệp dự báo và đề phòng những rủi ro bất định bằng cách đánh giá hiệu suất tài chính (doanh nghiệp có thể xác định các dấu hiệu tiền đề của rủi ro tài chính, chẳng hạn như tình trạng nợ nần tăng cao, lợi nhuận giảm đi đột ngột, hoặc dòng tiền âm), phân tích thị trường và đối thủ, đánh giá các kế hoạch kinh doanh và mức độ thực hiện, doanh nghiệp có thể xác định được các vấn đề tiềm ẩn và rủi ro có thể xảy ra trong quá trình triển khai chiến lược.
Phân tích hiệu quả kinh doanh thường sử dụng các mô hình dự báo và kỹ thuật phân tích dữ liệu để dự báo hiệu quả về các biến 8 đổi trong môi trường kinh doanh, chẳng hạn như biến động giá cả, thay đổi chính sách, hay sự biến động trong cảm xúc của thị trường. Điều này giúp doanh nghiệp chuẩn bị và phản ứng kịp thời đối với các rủi ro có thể phát sinh. Thứ tư, phân tích giúp doanh nghiệp định hình được hướng đi và chiến lược phát triển trong tương lai, đồng thời là công cụ để đề ra định hướng và chương trình phát triển. Một doanh nghiệp muốn phát triển, đi được đường dài cần phải có kế hoạch định hướng rõ ràng và bám sát tiến độ thực hiện.
Việc phân tích giúp cho nhà quản trị có cơ sở để đánh giá kết quả kinh doanh một cách thường xuyên và liên tục, xem xét các chỉ tiêu đề ra có đạt được như kế hoạch ban đầu không. Phân tích còn hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra các quyết định quan trọng (thay đổi cơ cấu tổ chức, thay đổi chính sách bán hàng…) nếu như trong quá trình thực hiện gặp phải những bất ổn.