Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phương pháp thống kê và đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Chương 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại và phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE PHƯƠNG PHÁP THONG KE VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan chung về hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại 1. Khai niệm Ngân hàng thương mại a.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo Luật các tô chức tín dụng quy định: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. ” (Nghị định s6 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) Cũng theo Luật này: “Hoat động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiên tệ và dich vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiên gửi và sử dụng số tiền này dé cap tin dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. ” Error! Hyperlink reference not valid. là một tô chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động trong ngân hàng về các lĩnh vực tài chính, cung cấp tiền tệ, các dịch vụ tài chính giữa ngân hàng với khách hàng và ngược lại.
Cũng giống như một doanh nghiệp thương mại, hoạt động của NHTM cũng có mục đích sau cùng là tối đa hoá lợi nhuận. NHTM thực hiện nhiều hoạt động khác nhau, điển hình là các hoạt động đi vay và cho vay lại dé tạo ra lợi nhuận. So với các doanh nghiệp, tô chức thương mại dịch vụ khác thì NHTM có một loại hàng hoá đặc biệt, đó là tiền vốn. Biểu hiện ra bên ngoài của tiền vốn chính là lãi suất, trong đó có lãi suất cho vay hoặc lãi suất huy động, nó chịu tác động bởi quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường.
Vì vậy lợi nhuận chủ yếu của hoạt động ngân hàng sẽ là khoản chênh lệch giữa thu nhập từ lãi khi cho vay với chỉ phí trả lãi huy động. Đề có hàng hoá kinh doanh, ngân hàng phải đa dạng các hình thức huy động tiền vốn cũng như đưa ra một mức giá mua hợp lý. Đồng thời ngân hàng cũng đa dạng hoá các hình thức cho vay nhằm phân tán giảm thiểu rủi ro. Như vậy Ngân hàng thương mại là một tô chức tín dụng trung gian với vai trò quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống t6 chức này mà các nguôn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tin dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Từ đó có thể nói bản chất của NHTM là một tô chức kinh tế; NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Phân loại Ngân hàng thương mại Theo quy định tại Khoản 5 điều 5 Nghị định 59/2009/NĐ-CP về tô chức hoạt động của NHTM, dựa vào hình thức sở hữu, Ngân hàng thương mại được chia thành 4 loại : o Ngân hàng thương mại Nhà nước “NHTM Nhà nước là NHTM trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% von diéu lệ. Ngân hàng thương mai Nhà nước bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phan do Nhà nước sở hữu trên 50% von điêu lệ.
” Một số Ngân hàng như : - Ngân hàng công thương Việt Nam - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam o Ngân hàng thương mại cô phan: Là “NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phan.” Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong NH này, một cá nhân hay pháp phân chỉ được sở hữu một số cô phần nhất định, bao gồm một số ngân hàng: - NHTM cổ phan A Châu - NHTM cô phần Phương Đông - NHTM cổ phan Quân đội - NHTM cổ phan Đông A o Ngân hàng liên doanh: Là “NHTM được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp dong liên doanh. NHTM liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. ” - Indovina Bank Limited - NH Việt Nga - Vid Public Bank - Vinasiam Bank - Shinahanvina Bank o NHTM 100% vốn nước ngoài: Là “NHTM được thành lập tại Việt Nam với 100% von diéu lệ thuộc sở hitu nước ngoài; trong đó phải có một NH nước ngoài sở hữu trên 50% vốn diéu lệ (NH mẹ). NHTM 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ so chính tại Việt Nam.
` , - NH trách nhiệm hữu han một thành viên ANZ - NH trách nhiệm hữu hạn một thành viên Standard Chartered - NH trách nhiệm hữu hạn một thành viên HSBC - NH trách nhiệm hữu hạn một thành viên Shinhan - NH trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hongleong c. Chức năng hoạt động của Ngân hàng thương mại Nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay vốn đầu tư là các nghiệp vụ chủ yêu của Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, kinh tế xã hội, các NHTM cũng có những thay đổi sao cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Nhờ có các NHTM mà các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước được thực hiện một cách kịp thời và nhanh chong, từ đó các doanh nghiệp có thé dé dàng kiểm soát các hoạt động hơn va theo đúng luật pháp hơn.
Với vi tri quan trọng đó, Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế hiện nay đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau, cụ thé như sau : s* Chức năng trung gian tin dụng Khi thực hiện chức năng trung gian tin dụng, vai trò của NHTM là cầu nối giữa những người có nhu cầu về vốn và những người có nguồn vốn nhàn rỗi. Với chức năng như vậy, vai trò của Ngân hàng sẽ vừa là người đi vay, đồng thời là người cho vay và hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất nhận gửi, từ đó, góp phần đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Đối với người ổi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu nguồn von dé thuc hién hoạt động kinh doanh cua mình một cach chắc chắn, tiện lợi và hợp pháp. Đồng thời giúp cho các hoạt động chi tiêu, thanh toán sẽ tiết kiệm được chi phí về sức lực, thời gian.
Đôi với người gửi tiên, ho sẽ nhận được một khoản tiên lãi từ nguồn von nhàn rồi họ gửi ngân hang. Hơn nữa khoản tiên gửi này sẽ được các ngân hang đảm bao an toàn với các dịch vụ thanh toán được cung câp một cách tiện lợi. Đặc biệt là trong nền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng sẽ thúc đây mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế vì các hoạt động mở rộng sản xuất diễn ra liên tục nhờ được các ngân hàng đáp ứng nhu câu vê von. Chức năng trung gian tín dụng được xem như là chức năng quan trọng nhất của NHTM nói chung.
+* Chức năng tạo tiên Chức năng tạo tiền không chỉ giới han là các hoạt động in thêm tiền và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước mà bản thân các NHTM vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng thê hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch. Thông qua hành vi cho vay từ các khoản tích trữ ban đầu bằng chuyên khoản, hệ thống NHTM có thể tạo ra số tiền gửi với khả năng sẽ gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu, tạo nên vòng quay về vốn. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi.
Hệ số mở rộng tiền gửi này chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ty lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được dé cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng dé mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng dé mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ. Tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế sẽ tăng nhờ chức năng này của hệ thống ngân hàng, từ đó đáp ứng được nhu cầu chỉ tiêu, thanh toán của xã hội.
Như vậy, những quan niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ gói gọn là tiền giấy do Ngân hàng Trung Ương phát hành mà còn bao gồm lượng tiền tín dụng (tiền ghi số) do các NHTM cổ phan tạo ra. s* Chức năng trung gian thanh toán Với chức năng này, vai trò của NHTM được coi như là thủ quỹ cho các cá nhân và các doanh nghiệp, thực hiện các yêu cầu phục vụ cho hoạt động thanh toán như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng dé thanh toán các chi phí cho hàng 10 hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của họ tiền thu từ hoạt động bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu họ đưa ra. Việc ngân hang thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tin dụng,.
Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thé kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền dé gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thé sử dụng một phương thức nào đó dé thực hiện các khoản thanh toán.