Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển của truyền thông đại chúng tại Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá mức độ hiện thực hóa bình đẳng giới trong đời sống xã hội. Dù Việt Nam đã thông qua Luật Bình đẳng giới vào tháng 11 năm 2006 và triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020, thực tiễn trên sóng truyền hình vẫn phản ánh nhiều khoảng cách so với khung pháp lý. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam được tái hiện như thế nào trong các chương trình quảng cáo truyền hình và liệu sự phản ánh này duy trì hay thách thức các hệ tư tưởng giới hiện hành.

Mục tiêu cụ thể của luận văn gồm hai phương diện: thứ nhất, phân tích phương thức biểu đạt hình ảnh phụ nữ qua cả kênh ngôn từ lẫn hình ảnh; thứ hai, làm rõ các hệ tư tưởng Nho giáo tiềm ẩn chi phối cấu trúc diễn ngôn thương mại. Phạm vi khảo sát tập trung vào 25 video quảng cáo truyền hình phát sóng trong dịp Tết Nguyên đán thuộc các năm 2013, 2014 và 2015 trên các kênh truyền hình quốc gia và địa phương như VTV, HTV. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống dữ liệu định tính chuẩn xác, chỉ ra rằng 100% quảng cáo khảo sát vẫn gắn chặt vai trò nữ giới với không gian nội trợ, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy xây dựng các thông điệp truyền thông tiến bộ hơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn thiết lập nền tảng phân tích dựa trên sự tích hợp của ba khung lý thuyết học thuật lớn:

Mô hình phân tích diễn ngôn phê phán ba chiều của Norman Fairclough (năm 1992, 2001) đóng vai trò khung xương sống, phân tích sự kiện diễn ngôn qua ba cấp độ: miêu tả văn bản, diễn giải thực hành diễn ngôn và giải thích thực hành xã hội.

Ngữ pháp chức năng hệ thống của Michael Halliday (năm 2014) được áp dụng để giải mã kênh ngôn từ. Khung lý thuyết này tập trung vào Hệ thống chuyển dịch với 6 tiến trình cơ bản (tiến trình vật chất, tinh thần, quan hệ, hành vi, ngôn từ và hiện sinh), kết hợp cùng phân tích cấu trúc Thức và Đề ngữ để xác định vai trò giao tiếp của nhân vật.

Ngữ pháp thiết kế thị giác của Gunther Kress và Theo van Leeuwen (năm 2006) được sử dụng để phân tích kênh hình ảnh đa phương thức. Ba khái niệm then chốt được khai thác gồm: Người tham gia tương tác, Khoảng cách xã hội và Điểm nhìn qua ánh mắt (phân định giữa ánh mắt đòi hỏi và ánh mắt đề nghị), kết hợp với mối quan hệ liên phương thức giữa kênh hình và kênh chữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán đa phương thức mang định hướng định tính. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 25 video quảng cáo truyền hình thương mại với thời lượng tiêu chuẩn từ 30 đến 45 giây mỗi video.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng dựa trên ba tiêu chí nghiêm ngặt: sản phẩm thuộc nhóm hàng tiêu dùng nhanh và đồ gia dụng phục vụ Tết; thời gian phát sóng trong khung giờ vàng dịp Tết cổ truyền của ba năm liên tiếp từ năm 2013 đến 2015; mẫu có hiển thị logo xác thực từ các đài truyền hình uy tín.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán kết hợp phân tích từng khung hình là vì các phương pháp thống kê định lượng thuần túy chỉ mô tả được bề nổi tần suất xuất hiện, trong khi việc kết hợp phân tích ngữ pháp hình ảnh và ngôn ngữ chức năng cho phép bóc tách toàn diện các tầng nghĩa biểu tượng, quan hệ quyền lực và hệ tư tưởng ẩn giấu đằng sau các hành vi tưởng chừng rất tự nhiên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chi tiết 25 đoạn quảng cáo Tết đã chỉ ra những phát hiện nổi bật về sự phân công vai trò giới:

Thứ nhất, phụ nữ có gia đình bị đóng khung vào không gian bếp núc và chăm sóc tổ ấm. Có tới 32% (8 trên 25 quảng cáo) khắc họa hình ảnh người phụ nữ là người nấu ăn chính của gia đình (tiêu biểu như các thương hiệu Knorr, Maggi, Halida, Nước ngọt Sá Xị). Đồng thời, 32% (8 trên 25 quảng cáo) tái hiện vai trò người mẹ là người chăm sóc và dạy dỗ con cái chuẩn bị Tết (như Phở Đệ Nhất, sữa Milo, bột giặt Omo).

Thứ hai, vị thế thứ yếu của phụ nữ trước nam giới thể hiện rõ nét trong 44% mẫu nghiên cứu (11 trên 25 quảng cáo). Trong ngôn từ, trật tự xưng hô luôn đặt nam giới lên trước như "ông bà", "bố mẹ". Về mặt hành vi thị giác, con cháu khi về thăm nhà luôn trao quà Tết trực tiếp cho người cha hoặc ông trước, trong khi người mẹ chỉ đứng bên cạnh phụ họa (điển hình như các quảng cáo của Bibica, Sữa Cô Gái Hà Lan, Dầu ăn Neptune).

Thứ ba, sự đối lập tuyệt đối giữa hình tượng phụ nữ và nam giới. Trong khi phụ nữ chưa lập gia đình được khắc họa tự do đi cà phê, mua sắm cùng bạn bè, thì nam giới trẻ tuổi luôn gắn liền với hình tượng thành đạt, mặc veston trang trọng, xuất hiện tại văn phòng hiện đại. Đáng chú ý, 100% hình ảnh nam giới cao tuổi trong khảo sát đều ở trạng thái thư thái nghỉ ngơi, đọc báo hoặc thưởng trà trong lúc phụ nữ tất bật dọn dẹp nhà cửa.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh sâu sắc sự tồn tại bền bỉ của hệ tư tưởng Nho giáo trong xã hội Việt Nam đương đại, nơi các chuẩn mực "tam tòng" và "tứ đức" vẫn âm thầm định hình kỳ vọng xã hội đối với người phụ nữ. Người phụ nữ hiện đại dù đã tham gia thị trường lao động vẫn phải gánh vác trọn vẹn trách nhiệm gia đình theo khuôn mẫu truyền thống "đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm".

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu quốc tế của Mohammadi năm 2011 tại Iran và Hag năm 2011 tại Bangladesh, khi truyền hình thương mại liên tục tái sản xuất hình ảnh phụ nữ gắn với sự thụ động và không gian gia đình. Các dữ liệu này được hệ thống hóa trực quan trong luận văn thông qua bảng mô tả đa phương thức từng khung hình và biểu đồ phân bổ tỷ lệ 6 vai trò chức năng của phụ nữ.

Đáng chú ý, việc 100% nhân vật nữ trong các đoạn quảng cáo đều nở nụ cười rạng rỡ khi thực hiện các công việc nội trợ nặng nhọc đã tạo ra một ảo tưởng về sự tự nguyện tuyệt đối, triệt tiêu mọi dấu hiệu phản kháng và khiến người xem tiếp nhận định kiến giới một cách tự nhiên, vô thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ban hành Bộ chỉ số giám sát bình đẳng giới trong truyền thông quảng cáo trước quý IV năm 2027, đặt mục tiêu giảm 50% các sản phẩm truyền thông sử dụng định kiến vai trò giới rập khuôn vào năm 2028.

Thứ hai, các doanh nghiệp nhãn hàng và công ty truyền thông quảng cáo cần đổi mới tư duy sáng tạo, chủ động phân bổ tỷ lệ xuất hiện của nam giới tham gia nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa đạt ít nhất 40% trong các chiến dịch Tết Nguyên đán từ năm 2027 đến năm 2030, nhằm xóa bỏ định kiến xem việc nhà là nghĩa vụ độc tôn của phụ nữ.

Thứ ba, các cơ sở giáo dục đại học khối ngành Ngôn ngữ học, Báo chí và Truyền thông tích hợp chuyên đề Phân tích diễn ngôn phê phán đa phương thức vào 100% chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ trước năm 2029, giúp sinh viên trang bị nhãn quan phê phán đối với các cấu trúc quyền lực giới trên phương tiện truyền thông.

Thứ tư, các tổ chức xã hội dân sự đẩy mạnh các chiến dịch nâng cao năng lực đọc hiểu truyền thông cho cộng đồng trong giai đoạn 2026–2030, khuyến khích người tiêu dùng thực hiện quyền phản hồi và tẩy chay các thông điệp quảng cáo hạ thấp hoặc phân biệt đối xử đối với phụ nữ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng: Tài liệu cung cấp quy trình nghiên cứu mẫu về việc kết hợp ba mô hình phân tích diễn ngôn phức hợp, phục vụ trực tiếp cho các đề tài luận văn về diễn ngôn đa phương thức.

Chuyên gia sáng tạo nội dung và Giám đốc nhãn hàng: Cung cấp góc nhìn thực tiễn giúp đội ngũ marketing nhận diện các điểm mù giới, từ đó xây dựng các chiến dịch truyền thông thương hiệu văn minh, tiến bộ và hạn chế tối đa rủi ro khủng hoảng truyền thông.

Các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức bình đẳng giới: Làm căn cứ thực tiễn để Vụ Bình đẳng giới và các tổ chức quốc tế hoạch định chính sách, xây dựng các khóa tập huấn về truyền thông nhạy cảm giới.

Nhà nghiên cứu văn hóa và xã hội học truyền thông: Khai thác kho tư liệu phân tích sâu sắc về mối quan hệ giữa phong tục Tết cổ truyền, tư tưởng Nho giáo và sự biến chuyển của cấu trúc gia đình Việt Nam hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và dữ liệu được thu thập như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát 25 video quảng cáo truyền hình có thời lượng từ 30 đến 45 giây, phát sóng trong dịp Tết Nguyên đán giai đoạn 2013–2015 trên các kênh truyền hình lớn như VTV, HTV. Tất cả mẫu đều được tải về từ nguồn lưu trữ chính thức và gắn mã định danh phân tích theo từng khung hình.

Tại sao tác giả lại lựa chọn quảng cáo phát sóng vào dịp Tết Âm lịch?
Dịp Tết Âm lịch là thời điểm thiêng liêng biểu trưng cho sự đoàn tụ gia đình và gìn giữ văn hóa truyền thống Việt Nam. Đây là bối cảnh tập trung mật độ cao nhất các mối quan hệ gia đình nhiều thế hệ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để bộc lộ rõ nét các vai trò và định kiến giới tiềm ẩn.

Lý thuyết Ngữ pháp thiết kế thị giác được ứng dụng cụ thể ra sao?
Khung lý thuyết của Kress và van Leeuwen giúp phân tích chi tiết các yếu tố hình ảnh gồm người tham gia, khoảng cách máy quay và góc nhìn. Chẳng hạn, góc quay ngang tầm mắt tạo cảm giác gần gũi, trong khi ánh mắt hướng ra ngoài thay vì nhìn thẳng vào ống kính biểu đạt tính chất cung cấp thông tin nhẹ nhàng, không gây áp lực.

Hình ảnh nam giới trong các quảng cáo được khắc họa như thế nào?
Nam giới được tái hiện với hai hình tượng nổi bật: người trẻ tuổi gắn với hình ảnh chuyên gia, doanh nhân thành đạt mặc âu phục lịch sự; người cao tuổi luôn trong trạng thái thư thả đọc báo, thưởng trà và là người đầu tiên tiếp nhận quà mừng từ con cháu.

Quảng cáo có phản ánh sự phản kháng của phụ nữ đối với định kiến giới không?
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoàn toàn không có sự phản kháng nào xuất hiện. Phụ nữ luôn được thể hiện với nụ cười hạnh phúc và sự cam kết tự nguyện khi phục vụ gia đình, điều này khiến cho hệ tư tưởng phụ hệ tiếp tục được duy trì và củng cố trong tiềm thức xã hội.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đúc kết trọng tâm:

  • Hệ thống hóa toàn diện 6 vai trò gia đình của phụ nữ có gia đình trong quảng cáo Tết, nhấn mạnh chức năng người nội trợ và người chăm sóc chính.
  • Xác định sự chênh lệch vị thế quyền lực giữa nam và nữ qua trật tự xưng hô ngôn ngữ và thứ tự tương tác thị giác.
  • Chứng minh tính ứng dụng thực tiễn cao của việc kết hợp mô hình Fairclough, Halliday và Kress & van Leeuwen trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.
  • Khẳng định các quảng cáo truyền hình thương mại dịp Tết đang duy trì và củng cố hệ tư tưởng giới Nho giáo truyền thống thay vì thúc đẩy bình đẳng giới.
  • Cung cấp cơ sở thực chứng vững chắc cho việc phê bình truyền thông và đề xuất các giải pháp nâng cao nhạy cảm giới trong quảng cáo.

Đóng góp lớn nhất của công trình là lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về phân tích diễn ngôn phê phán đa phương thức trên sóng truyền hình Việt Nam. Trong lộ trình nghiên cứu tiếp theo giai đoạn 2026–2030, tác giả đề xuất mở rộng phạm vi khảo sát sang các nền tảng mạng xã hội và phim truyền hình dài tập. Các nhà nghiên cứu và người làm truyền thông hãy cùng chung tay khai thác các công cụ phân tích phê phán để xây dựng một môi trường truyền thông bình đẳng, nhân văn và phản ánh đúng vị thế tiến bộ của người phụ nữ Việt Nam ngày nay.