ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc sức khỏe là nhu cầu thiết yếu của con người, đặc biệt khi trình độ văn hóa và chất lượng cuộc sống được nâng cao nhu cầu này càng được quan tâm nhiều hơn. Từ ngàn xưa con người đã biết dùng các loại cây, cỏ, bộ phận động vật, khoáng vật.để tăng cường và bảo vệ sức khỏe. Nền Y học cổ truyền cũng từ đó mà được hình thành, đúc kết theo bề dầy của lịch sử và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điển hình là nền Y học cổ truyền Phương Đông đã chắt lọc và kết tinh trí tuệ của các dân tộc trong khu vực qua năm tháng.
Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh với bệnh tật, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe cho con người, các dân tộc Phương Đông đã xây dựng một nền y học rất độc đáo, bao gồm một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh. Ngày nay, nền y học lại càng được phát triển mạnh mẽ với vô vàn những thành tựu nổi bật. Sức khỏe của người dân ngày càng được chú trọng và được chăm sóc tốt hơn bằng cả Y học cổ truyền và Y học hiện đại. Nhận thức được giá trị của Y học cổ truyền, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách nhất quán coi Y học cổ truyền là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống khám chữa bệnh chung của ngành Y tế Việt Nam.
Đồng thời cần kế thừa, bảo tồn và phát triển nền Y học, kết hợp chặt chẽ Y dược cổ truyền với Y dược hiện đại trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân [1]. Tuy nhiên, hiện nay vẫn đang còn một số bất cập trong công tác quản lý và sử dụng thuốc y học cổ truyền trong bệnh viện, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cũng như uy tín của các cơ sở y tế, làm tăng kinh phí khám chữa bệnh và quan trọng hơn cả đó là vấn đề đảm bảo thuốc y học cổ truyền được sử dụng hợp lý, an toàn và hiệu quả. Hoạt động khám chữa bệnh của hệ thống Y học cổ truyền tại các bệnh viện, địa phương còn gặp nhiều khó khăn, nhiều chỉ tiêu chưa hoàn thành mục tiêu đề ra. Các hoạt động cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện cạnh tranh khốc liệt, giữa thuốc sản xuất trong nước và các thuốc nhập khẩu, giữa các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại thuốc có cùng loại hoạt chất hoặc cùng một dạng thuốc với nhau dẫn tới khó khăn cho cán bộ y tế trong việc lựa chọn thuốc sử dụng trong bệnh viện.
1 Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương là một trong những bệnh viện tuyến đầu của cả nước trong việc phối hợp giữa việc sử dụng y học cổ truyền và y học hiện đại, đảm bảo và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân. Được sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện trong việc từng bước triển khai và tăng cường các biện pháp sử dụng thuốc hợp lý, an toàn hiệu quả trong điều trị. Tuy nhiên, công tác cung ứng thuốc và công tác quản lý sử dụng thuốc của Bệnh viện vẫn còn gặp nhiều khó khăn bất cập. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó để tăng cường chất lượng danh mục thuốc trong Bệnh viện và sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và chi phí phù hợp cho người bệnh đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Đã có nhiều để tài trong nước tiến hành phân tích hoạt động cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế, trong đó chú trọng đến hoạt động sử dụng thuốc thông qua việc phân tích các danh mục thuốc trúng thầu và danh mục thuốc sử dụng. Nhằm góp phần mang lại một số thông tin về hoạt động sử dụng thuốc nói riêng và hoạt động cung ứng thuốc trong Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương nói chung, đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương trong năm 2022” được tiến hành với hai mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Y học cổ Truyền Trung ương trong năm 2022. Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2022 theo phương pháp ABC/VEN 2 TỔNG QUAN 1.
Danh mục thuốc và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 1.1 Khái niệm danh mục thuốc Theo Hội đồng thuốc và điều trị - cẩm nang hướng dẫn thực hành (Drug and therapeutics committees - A practical guide) do WHO ban hành năm 2003 có định nghĩa: “Danh mục thuốc (formulary list, DMT) là danh sách các thuốc được phê duyệt để sử dụng tại cơ sở chăm sóc sức khỏe cụ thể"[2]. Một DMT tốt sẽ mang đến nhiều lợi ích cho bệnh viện như loại bỏ được các thuốc không an toàn và kém hiệu quả, giảm được chi phi điều trị và số ngày nằm viện của bệnh nhân. Ngoài ra giúp giảm số lượng và chi phí mua thuốc, không lãng phí ngân sách. Bệnh viện sẽ tập trung tốt hơn trong công tác cung cấp thông tin thuốc và đào tạo liên tục cho cán bộ nhân viên.2 Nguyên tắc xây dựng DMT bệnh viện Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các quy định về sử dụng thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện, Hội đồng thuốc và điều trị có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện theo nguyên tắc sau [3]: a) Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; b) Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; c) Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; d) Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; e) Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; f) Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; g) Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước.3 Các tiêu chí lựa chọn thuốc Các tiêu chí lựa chọn thuốc vào danh mục [3]: 3 a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng; b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp đảm bảo sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; d) Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; đ) Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất.
Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng; e) Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt được hoặc nhà sản xuất cụ thể.4 Các bước xây dựng danh mục thuốc Các bước xây dựng danh mục thuốc gồm có [3]: a) Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC/VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy; b) Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan; c) Xây dựng danh mục thuốc và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và theo phân loại VEN; 4 d) Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như: thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần,. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc. Sử dụng thuốc không hợp lý đã và đang là vấn đề được quan tâm trên toàn cầu vì những hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra như làm tăng đáng kể chi phí hoạt động chăm sóc sức khỏe, giảm chất lượng điều trị, tăng nguy cơ xảy ra các ADR của thuốc. Để quản lý được việc sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần có các phương pháp phân tích dữ liệu và tổng hợp thông tin về thuốc.
Có các phương pháp thường được sử dụng trong việc phân tích hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện bao gồm: phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị góp phần giúp bệnh viện kiểm soát tốt hơn hoạt động sử dụng thuốc cũng như công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện. Trong các thống kê nhiều năm gần đây cho thấy, tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện thường chiếm 40% - 50% ngân sách của bệnh viện. Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp cải thiện. Một số công cụ để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện hiện nay là phương pháp phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị, phân tích ABC.
Từ đó HĐT&ĐT xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp [3].1 Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [3]. Phương pháp phân tích ABC là một phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto hay quy luật 80-20. Phân tích ABC giúp phân tầng 3 nhóm thuốc để giúp quản lý hiệu quả, bao gồm: các thuốc nhóm A chỉ chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm nhưng chiếm chi phí cao nhất (75-80% tổng giá trị tiền), các thuốc nhóm B chiếm 10 – 20% tổng khoản mục và chiếm chi phi từ 15-20% tổng chi phi và còn lại là các thuốc nhóm C chiếm số lượng lớn với chi phí thấp.