ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viện là nơi khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh. Thuốc được sử dụng trong phòng bệnh, chữa bệnh và đã trở thành nhu cầu thiết yếu, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Do đó những vấn đề liên quan đến thuốc ngày càng được quan tâm. Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý nói chung và trong bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia.
Đây cũng là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh. Ở Việt Nam, những năm vừa qua số lượng chế phẩm thuốc lưu hành trên thị trường không ngừng gia tăng. Theo số liệu thống kê của Cục quản lý dược số lượng đăng ký thuốc cấp ở Việt Nam từ 2009-2019: 45.163 SĐK/năm, gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2000-2005. Thuốc trong nước: từ năm 2009-2019: 28.388 SĐK (62%); thuốc nước ngoài: từ 2009- 2019: hơn 17.
Điều này đã góp phần đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng và giá cả tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện, dẫn tới sự cạnh tranh không lành mạnh cũng như tình trạng lạm dụng thuốc. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo các bệnh viện tại các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT), vừa là diễn đàn cho tất cả các bên có liên quan cùng hợp tác nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, vừa được xem như một công cụ để nâng cao hơn nữa tính hiệu quả, hợp lý trong sử dụng thuốc. Một trong các nhiệm vụ của HĐT&ĐT là quản lý danh mục thuốc.
Việc quản lý danh mục thuốc rất quan trọng, có ảnh hưởng tới chất lượng chăm sóc y tế. Thường xuyên rà soát danh mục thuốc là một công việc không thể thiếu trong công tác quản lý danh mục thuốc. Càng ngày càng có nhiều thuốc và phác đồ điều trị mới và nếu như không có sự xem xét đánh giá 1 thì danh mục thuốc sẽ trở thành một bộ sưu tập thuốc cũ kém hiệu quả. Do vậy danh mục thuốc cần được rà soát lại trên cơ sở thời gian từ 2-3 năm/lần [32].
Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương là bệnh viện chuyên khoa hạng I của Bộ Y tế đóng trên địa bàn thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa. Với quy mô 310 giường bệnh kế hoạch và công suất sử dụng khoảng 80%, với nhiệm vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân trên toàn thành phố đồng thời phục hồi chức năng cho người khuyết tật, trẻ bại não, liệt tủy. Số lượng bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện ngày càng tăng, chi phí sử dụng thuốc cũng tăng theo trong khi nguồn lực về kinh tế ngày càng eo hẹp do bệnh viện bắt đầu tự chủ về tài chính. Bên cạnh đó, ngày 08/08/2013, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/2013/TT-BYT Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện [10].
Do vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương năm 2021” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương năm 2021. Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương năm 2021 theo phương pháp ABC, ma trận ABC/VEN. Kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra những bất hợp lý trong danh mục thuốc sử dụng năm 2021, từ đó đưa ra các ý kiến đề xuất với Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng danh mục thuốc bệnh viện cho những năm tiếp theo, đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả.
Hoạt động xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 1. Định nghĩa về danh mục thuốc bệnh viện Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh. Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý [38]. Lựa chọn danh mục thuốc Trong thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 quy định rõ các tiêu chí lựa chọn thuốc trong Danh mục thuốc Bệnh viện bao gồm [10]: a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng.
Mức độ tin cậy của các bằng chứng được thể hiện theo quy định; b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy định ở trên thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; d) Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; e) Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng 3 hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; f) Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể. g) Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng [10]. Phân tích Đảm bảo chất chi phí - hiệu quả Ưu tiên lượng, giá và khả thuốc dạng năng cung ứng đơn chất Sẵn có ở dạng bào Tiêu chí Ưu tiên chế thích hợp lựa chọn thuốc thuốc Generic Đủ bằng chứng Đặc tính tin cậy về hiệu dược động học, quả điều trị thiết bị bảo quản và tính an toàn Hình 1.
Tiêu chí lựa chọn thuốc 1. Xây dựng danh mục thuốc Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các qui định về sử dụng danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, nguồn thu viện phí, nguồn quỹ Bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp của bệnh viện) 4 HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện theo nguyên tắc: a) Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; b) Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; c) Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; d) Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; e) Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; f) Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; g) Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [10]. Mô hình bệnh tật Phác đồ điều trị Danh mục Trình độ chuyên môn, thuốc thiết yếu kỹ thuật Danh mục K/n chi trả của BN, thuốc chủ yếu quỹ BHYT, kinh phí HĐT& ĐT DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN Hình 1. Các yếu tố làm căn cứ để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 5 1.
Mô hình bệnh tật Mô hình bệnh tật của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện xây dựng DMT phù hợp, làm cơ sở để bệnh viện định hướng, phát triển toàn diện. Mô hình bệnh tật là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời gian nhất định về số bệnh nhân đến khám và điều trị. Để nghiên cứu mô hình bệnh tật được thống nhất, thuận lợi và chính xác, Tổ chức Y tế thế giới đã ban hành phân loại Quốc tế về bệnh tật ICD (International Classification Diseases). Bảng phân loại này đã được bổ sung và sửa đổi 10 lần.
Bảng ICD lần thứ 10 gồm 21 chương với 10.000 bệnh, mỗi chương có một hay nhiều nhóm bệnh, mỗi nhóm bệnh có nhiều loại bệnh, mỗi loại bệnh có nhiều chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc thù của bệnh đó [11]. Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc và một số nghiên cứu về phân tích danh mục thuốc tại Việt Nam. Các phương pháp phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện thường sử dụng là phương pháp phân tích từ dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc, bao gồm: phương pháp phân tích ABC, phân tích VEN, phân tích ma trận ABC/VEN, phân tích nhóm điều trị, phân tích sử dụng liều xác định trong ngày được áp dụng để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc. HĐT&ĐT chỉ cần áp dụng ít nhất một trong các phương pháp để phân tích việc sử dụng thuốc tại bệnh viện [10].
Phương pháp phân tích ABC Có một thực tế rằng, khoảng 2/3 ngân sách thuốc được phân bổ cho khoảng 10-20% sản phẩm thuốc. Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách. 6 Phân tích ABC có thể [32]: - Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. Thông tin này được sử dụng để: Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn.
Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế. Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn. - Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện ra những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với MHBT.