phần mở đầu, phần nội dung của đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị và phân tích chuỗi giá trị Chƣơng 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 4: Giải pháp phát triển chuỗi giá trị cây Sả trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, Bình Định 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ 1. KHÁI NIỆM CHUỖI GIÁ TRỊ 1. Khái niệm chuỗi giá trị Khái niệm chuỗi giá trị (value chain) đƣợc Micheal Porter đƣa ra lần đầu vào năm 1980, ông cho rằng công cụ quan trọng của doanh nghiệp để tạo ra giá trị lớn hơn cho khách hàng chính là chuỗi giá trị. Về thực chất, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp.
Chuỗi giá trị bao gồm 9 hoạt động tƣơng ứng về chiến lƣợc tạo ra giá trị cho khách hàng, trong đó, chia ra 5 hoạt động chính (cung ứng đầu vào, quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm, marketing - bán hàng và dịch vụ) và 4 hoạt động hỗ trợ (quản trị tổng quát, quản trị nhân sự, phát triển công nghệ và hoạt động thu mua). Chuỗi giá trị của Porter (1985) [26] Tiếp đó, nhà nghiên cứu Kaplins Rapheal đã đƣa ra khái niệm về chuỗi giá trị trong phân tích toàn cầu hóa: ―Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động 9 cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng‖. Và một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những ngƣời tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị cho chuỗi. Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị của nhà cung Chuỗi giá trị của ngƣời ứng cấp của công ty mua Hình 1.
Hệ thống giá trị của Porter (1985) [26] Nhƣ vậy, ta có thể giải thích định nghĩa về chuỗi giá trị: - Chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp Một chuỗi giá trị bao gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Tất cả các hoạt động từ thiết kế, quá trình mang vật tƣ đầu vào, sản xuất, phân phối, marketing bán hàng, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đã tạo thành một chuỗi kết nối ngƣời sản xuất với ngƣời tiêu dùng. Hơn nữa, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng. - Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng Là một phức hợp những hoạt động do nhiều ngƣời tham gia khác nhau thực hiện (ngƣời sản xuất sơ cấp, ngƣời chế biến, thƣơng nhân, ngƣời cung cấp dịch vụ) để biến một nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến.
Chuỗi giá trị còn gắn liền với các khía cạnh xã hội và môi trƣờng. Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (nhƣ nƣớc, đất đai), có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm. Đồng thời, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể 1 ảnh hƣởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống. Một số khái niệm có liên quan 1.
Chuỗi cung ứng Một chuỗi cung ứng đƣợc định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vật chất và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân. Theo Lambert và Cooper (2000) [21] một chuỗi cung ứng có 4 đặc trƣng cơ bản nhƣ sau: + Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc. + Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức. + Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hƣớng, các hoạt động điều hành và quản lý.
+ Thứ tƣ: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ƣu nguồn lực của mình. Chuỗi nông sản thực phẩm Một chuỗi nông sản thực phẩm cũng là một chuỗi cung ứng sản xuất và phân phối nông sản thực phẩm bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin diễn ra đồng thời. Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm khác với chuỗi cung ứng của các ngành khác ở các điểm nhƣ sau: - Bản chất của sản xuất nông nghiệp thƣờng dựa vào quá trình sinh học, do vậy làm tăng biến động và rủi ro. - Bản chất của sản phẩm, có những đặc trƣng tiêu biểu nhƣ dễ dập thối và khối lƣợng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khácnhau.
- Thái độ của xã hội và ngƣời tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm an toàn và vấn đề môi trƣờng. ản phẩm Trong chuỗi giá trị mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm của riêng mình. Trừ những sản phẩm bán l cuối cùng, sản phẩm của mọi tác nhân khác chƣa phải là sản phẩm cuối cùng của chuỗi mà chỉ là kết quả của quá trình sản xuất của từng tác nhân. Trong chuỗi giá trị sản phẩm của tác nhân trƣớc là chi phí trung gian của tác nhân liền kề sau nó.
Chỉ có sản phẩm của tác nhân cuối cùng trƣớc khi đến tay ngƣời tiêu dùng mới là sản phẩm của chuỗi giá trị. Ngành hàng Vào những năm 1960, phƣơng pháp phân tích ngành hàng (Filière) đƣợc sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp. Các vấn đề đƣợc quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phƣơng đƣợc kết nối với công nghiệp chế biến, thƣơng mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bƣớc sang những năm 1980, phân tích ngành hàng đƣợc sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phƣơng pháp này đƣợc phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng.
Đến những năm 1990, có một khái niệm đƣợc cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng. “Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài”. Theo Fearne: ―Ngành hàng đƣợc coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng. Nhƣ vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của ngƣời tiêu thụ‖ [18].
Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là ―Tập hợp những tác nhân 1 (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trƣờng hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp‖ [17] Nhƣ vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hƣởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác. Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó. Sự dịch chuyển đƣợc xem xét theo ba dạng sau [17]: + Sự dịch chuyển về mặt thời gian Sản phẩm đƣợc tạo ra ở thời gian này lại đƣợc tiêu thụ ở thời gian khác.
Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ. Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm. + Sự dịch chuyển về mặt không gian Trong thực tế, sản phẩm đƣợc tạo ra ở nơi này nhƣng lại đƣợc dùng ở nơi khác. Ở đây đòi hỏi phải nhận biết đƣợc các kênh phân phối của sản phẩm.
Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nƣớc và đó là cơ sở không thể thiếu đƣợc để sản phẩm trở thành hàng hoá. Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lƣu kinh tế của Chính phủ. + Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm) Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến. Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó đƣợc phát triển theo sở thích của ngƣời tiêu dùng và trình độ chế biến.
Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng 1 càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới đƣợc tạo ra. Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính sách. Hơn nữa, theo Fabre thì ―Ngành hàng là sự hình thức hoá dƣới dạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phƣơng thức điều tiết‖ [17]. + Mạch hàng: Mạch hàng là khoảng cách giữa hai tác nhân, nó chứa đựng quan hệ kinh tế giữa hai tác nhân và những hoạt động chuyển dịch về sản phẩm.
Qua từng ma ch hàng giá trị sản phẩm đƣợc tăng thêm và do đó giá cả cũng đƣợc tăng thêm do các khoản giá trị mới sáng tạo ra ở từng tác nhân. + Luồng hàng: Những mạch hàng liên tiếp đƣợc sắp xếp theo trật tự từ tác nhân đầu tiên đến tác nhân cuối cùng sẽ tạo nên luồng hàng và toàn bộ chuỗi giá trị của ngành hàng.