Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Lí luận về phân tích chuỗi giá trị 1. Chuỗi giá trị và những khái niệm liên quan • Chuỗi giá trị Theo nhóm tác giả của cuốn sách “Cẩm nang Value link”, một chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế có thể được mô tả như: • Một chuỗi các hoạt động kinh doanh có liên quan mật thiết đến nhau ( các chức năng) từ khi mua các đầu vào cụ thể dành cho việc sản xuất sản phẩm nào đó, đến việc hoàn chỉnh và quảng cáo, cuối cùng là bán thành phẩm cho người tiêu dùng.[13] • Các doanh nghiệp ( nhà vận hành) thực hiện những chức năng này, ví dụ như nhà sản xuất, người chế biến, thương gia, nhà phân phối một sản phẩm cụ thể.
Các doanh nghiệp này được liên kết với nhau bởi một loạt các hoạt động kinh doanh, trong đó sản phẩm được chuyển từ các nhà sản xuất ban đầu tới những người tiêu dùng cuối cùng.[13] • Một mô hình kinh doanh đối với một sản phẩm thương mại cụ thể. Mô hình kinh doanh này cho phép các khách hàng cụ thể được sử dụng một công nghệ cụ thể và là một cách điều phối đặc biệt giữa hoạt động sản xuất và marketing giữa nhiều doanh nghiệp.[13] • Trong cuốn “Phân tích chuỗi giá trị - Lý thuyết và kinh nghiệm từ nghiên cứu ngành chè Việt Nam” do Quỹ MISPA tài trợ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm chuỗi giá trị giản đơn và chuỗi giá trị mở rộng. - “Chuỗi giá trị giản đơn là chuỗi hoạt động trong các khâu cơ bản từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của sản phẩm”. Ví dụ thiết kế -> sản xuất -> phân phối -> tiêu dùng n 4 - “Chuỗi giá trị mở rộng chi tiết hoá các hoạt động và các khâu của chuỗi giá trị giản đơn để thấy rõ nhiều bên tham gia và liên quan đến nhiều chuỗi giá trị khác nhau”.[8] b) Ngành hàng Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp.
Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng. • Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng nông sản do J.P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài" [J. • Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng”.
Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ. Có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp”. n 5 • Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác.
Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó. • Sự dịch chuyển được xem xét theo 3 dạng sau: - Sự dịch chuyển về mặt thời gian • Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác. Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ. Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm.
• Sự dịch chuyển về mặt không gian • Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác. Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm. Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá. Điều kiện cần thiết của chuyển dịch là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ.
• Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm) • Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến. Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến. Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra. • Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và n 6 chính sách.
Hơn nữa, theo Fabre thì “ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức điều tiết”. c) Tác nhân • Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại: - Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh,.) • Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy.) • Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt động.
Ví dụ tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích. • Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng. Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân. Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn.
Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng. Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng. d, Mạch hàng • Là khoảng cách giữa hai tác nhân, mạch hàng mang nhiều mối quan hệ kinh tế giữa hai tác nhân và những hoạt động chuyển dịch sản phẩm. Qua mỗi tác nhân giá trị của sản phẩm tăng lên, do sự sáng tạo và chất lượng cùng với tác dụng cũng tăng lên n 7 - Mỗi tác nhân có thể tham gia vào nhiều mạch hàng, tức là sẽ có nhiều mối quan hệ với các tác nhân chuỗi càng chặt chẽ, vậy chuỗi hàng từ đó càng bền vững.
e, Luồng hàng • Là nhiều mạch hàng được sắp xếp theo thứ tự từ tác nhân đầu tiên đến tác nhân cuối cùng sẽ tạo nên các luồng hàng trong một ngành hàng. • Luồng hàng tạo nên một hệ thống tác nhân khác nhau từ công đoạn sản xuất -> chế biến -> lưu thông sản phẩm cuối cùng. Sản phẩm cuối cùng càng đa dạng, phong phú thì luồng hàng trong ngành hàng càng nhiều. Mỗi luồng hàng cũng đều bắt đầu từ tác nhân ở khâu đầu tiên và tới nơi tiêu thụ cuối cùng.
Khái niệm chi phí và lợi nhuận 1. Chi phí - Chi phí gồm: Chi phí cố định (FC) và Chi phí biến đổi (VC) • Chi phí cố định (FC) (định phí) - Là những chi phí không thay đổi khi khối lượng sản phẩm sản xuất ra thay đổi. Nó luôn luôn tồn tại trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu tính trong một đơn vị sản phẩm thì nó lại thay đổi.
• Ví dụ: tiền thuê cửa hàng của một doanh nhân có thể không phụ thuộc vào doanh thu hoặc một nhà sản xuất đồ may mặc phải trả một khoản tiền thuê mặt bằng cố định, không phụ thuộc vào sản lượng quần áo ông may được. Đó là chi phí khấu hao (trả dần) vốn đầu tư cho sản xuất như: khấu hao tài sản cố định, tiền thuê địa điểm sản xuất, tiền thuê bảo vệ, lãi suất ngân hàng, chi phí trang thiết bị thực hiện sản xuất.[3] + Chi phí biến đổi (VC) hay gọi Biến phí • Là những chi phí thay đổi khi khối lượng sản xuất sản phẩm thay đổi tăng hoặc giảm. Tổng chi phí biến đổi tùy thuộc theo số lượng đơn vị sản phẩm sản xuất ra, xong khi tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm thì nó n 8 thường ổn định. Là chi phí hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh như: nguyên vật liệu, nguồn giống, thức ăn, phân bón, nhân công khi mùa vụ.Chi phí này thường tăng lên theo tỷ lệ thuận quy mô sản xuất.
+ Tổng chi phí (TC) • Tổng chi phí (TC)= Chi phí cố định (FC) + Chi phí biến đổi (VC) 1.