Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây mía (thuộc chi Saccharum, tông Andropogoneae, họ Hòa thảo Poaceae) là cây công nghiệp lấy đường truyền thống, có thân to mập, chứa nhiều đường và sinh khối xenluloza cao (từ 2 đến 6 m). Tại huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, mía đường (cùng với mía tím) giữ vai trò là cây trồng chủ lực trong chiến lược xóa đói giảm nghèo và chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên các diện tích đất lúa một vụ không chủ động nguồn nước tưới hoặc đất vườn tạp kém hiệu quả. Khác với nhiều loại nông sản tiêu dùng tươi, mía cây sau khi thu hoạch là sản phẩm trung gian; giá trị kinh tế của nông hộ không thể tự gia tăng tại chỗ mà phụ thuộc hoàn toàn vào chuỗi vận chuyển, chế biến công nghiệp thành đường thành phẩm và hệ thống phân phối thương mại. Do đó, ngành hàng mía đường đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ và tương tác hữu cơ giữa người sản xuất nông nghiệp và doanh nghiệp chế biến công nghiệp.
Tuy nhiên, thực trạng ngành mía đường Việt Nam nói chung và địa bàn huyện Bá Thước nói riêng tồn tại nhiều bất cập: đất canh tác thuộc sở hữu của nông hộ cá thể, quy mô manh mún, thiếu vắng các hợp tác xã làm đầu mối liên kết; chuỗi giá trị vận hành thiếu tính đồng bộ và cơ chế chia sẻ lợi nhuận chưa công bằng giữa các tác nhân. Những năm gần đây, người trồng mía tại Bá Thước đối mặt với tình trạng chi phí vật tư đầu vào tăng cao, giá thu mua nguyên liệu sụt giảm (từ mức 1.025 đồng/kg năm 2017 xuống còn 830 đồng/kg năm 2018), thời tiết biến động thất thường và tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch lớn. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn trên, tác giả Trần Thị Hoa (sinh viên lớp 59 Khuyến nông, Viện Quản lý đất đai và phát triển nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của cô Trần Thị Thanh Bình) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ trong hệ thống mía đường chuyên canh tại huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa".
Khóa luận xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
Mục tiêu tổng quát:
- Nghiên cứu chuỗi liên kết sản xuất mía đường.
- Tìm hiểu về vòng tròn tiêu thụ sản phẩm mía đường.
- Tìm hiểu về các bên liên quan tham gia chuỗi liên kết.
- Đánh giá vai trò của các bên liên quan trong chuỗi.
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ mía đường đồng thời đánh giá tác động của các tác nhân trong chuỗi liên kết mía đường ở Bá Thước.
- Mô tả chuỗi liên kết mía đường ở Bá Thước.
- Phân tích kinh tế chuỗi liên kết mía đường Bá Thước.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi liên kết mía đường Bá Thước.
Đối tượng nghiên cứu: Các tác nhân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào chuỗi liên kết mía đường, bao gồm:
- Cửa hàng, đại lý cung cấp vật tư nông nghiệp đầu vào (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) và cơ sở cung ứng giống.
- Nông hộ sản xuất mía đường tại địa bàn.
- Người thu gom và các đơn vị vận chuyển mía nguyên liệu.
- Nhà máy mía đường Lam Sơn (đơn vị chế biến và tiêu thụ sản phẩm).
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa; khảo sát trọng điểm tại xã Lương Trung (tập trung tại thôn Trung Dương và thôn Trung Thành – những nơi có diện tích canh tác mía lớn nhất xã).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2016 – 2018 (kết hợp chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2011 – 2016); số liệu sơ cấp được điều tra thực địa trong tháng 3 và tháng 4 năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi liên kết nông sản, kết hợp các công cụ phân tích kinh tế vi mô và quản trị chiến lược:
| Tác nhân trong chuỗi liên kết |
Số lượng mẫu quan sát |
Phương pháp thu thập |
| Đại lý vật tư nông nghiệp |
01 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi |
| Người cung ứng giống mía |
02 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi |
| Hộ nông dân sản xuất mía đường |
50 (+ 02 nhóm PRA) |
Khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc |
| Chủ phương tiện vận chuyển |
04 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi |
| Nhà máy chế biến mía đường |
01 |
Phỏng vấn đại diện NMĐ Lam Sơn |
| Tổng cộng |
60 |
Điều tra thực địa 03/2018 - 04/2018 |
- Hệ thống chỉ tiêu và công thức tính toán:
- Giá trị sản xuất ($GO$): $GO = \sum (q_i \cdot p_i)$, trong đó $q_i$ là sản lượng mía loại $i$, $p_i$ là giá bán bình quân.
- Chi phí trung gian ($IC$): Toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ mua ngoài: $IC = \sum (i_j \cdot c_j)$, bao gồm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vôi, giống...
- Giá trị gia tăng ($VA$): $VA = GO - IC$.
- Thu nhập hỗn hợp ($MI$): $MI = VA - (\text{Thuế} + \text{Khấu hao tài sản cố định})$.
- Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế: Tỷ số $VA/IC$, $GO/IC$, $MI/IC$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Đặt vấn đề
Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài dựa trên đặc thù sinh học và kinh tế của cây mía tại miền Trung và huyện Bá Thước. Tác giả nêu rõ mía là cây trồng cạn chịu hạn thích hợp trên đất dốc không chủ động nước tưới. Tuy nhiên, tính chất sản phẩm trung gian đòi hỏi mối liên kết bắt buộc với nhà máy chế biến khiến nông hộ chịu rủi ro khi thị trường biến động. Văn bản xác định 4 mục tiêu cụ thể, phạm vi nghiên cứu tại xã Lương Trung (giai đoạn 2016 - 2018, khảo sát tháng 3-4/2018) và 4 nhóm đối tượng tác nhân tham gia khảo sát.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi liên kết, liên kết dọc và liên kết ngang. Tác giả tổng quan các công trình quốc tế về chuỗi giá trị nông sản (táo Syria của Hosni & Lancon 2011; xoài Ethiopia của Ssemwanga 2008; lê Trung Quốc của Zuhui Huang 2009; gạo và ngô Tanzania của Uliwa 2010; rau quả Nam Kinh của Hualiang Lu 2006). Đồng thời, tác giả tổng hợp các nghiên cứu trong nước về mía đường (Võ Hồng Tú 2017 tại Hậu Giang), cà phê Đắk Lắk (GTZ 2006), dưa hấu Long An (GTZ 2006), bưởi Năm Roi và vú sữa Vĩnh Kim (Nguyễn Ngọc Huy 2010; Nguyễn Vũ Trâm 2010).
Về thực trạng ngành, báo cáo phân tích bức tranh ngành mía đường Việt Nam giai đoạn 2001 - 2018: diện tích trồng mía giảm bình quân 1,13%/năm do cạnh tranh cây trồng khác; niên vụ 2017 - 2018 cả nước có 39/41 nhà máy đường hoạt động với tổng công suất gần 160.000 tấn mía/ngày, tổng diện tích 255.354 ha, năng suất trung bình 63,33 tấn/ha, trữ đường bình quân 9,8 CCS, sản lượng mía 15,5 triệu tấn. Tại Thanh Hóa, mía là cây trồng chủ lực với diện tích chiếm 11,3% và sản lượng chiếm 10,8% cả nước; diện tích bình quân giai đoạn 2011 - 2017 đạt trên 30.500 ha/vụ ép, năng suất 58 tấn/ha. Vùng nguyên liệu của Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn đạt 15.000 ha (vùng Lam Sơn 11.000 ha, Nông Cống 4.000 ha), sở hữu các bộ giống chủ đạo VĐ 93-159, VĐ 00236, VL6, LS1, LS2. Tại huyện Bá Thước, mía đường chiếm tỷ trọng nhỏ, thị trường tiêu thụ duy nhất là bán nguyên liệu cho Nhà máy đường Lam Sơn.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Văn bản quy định 4 nội dung nghiên cứu chi tiết: (1) Đánh giá hiện trạng sản xuất và tiêu thụ; (2) Phân tích hoạt động của các tác nhân đầu vào, nông hộ, trung gian; (3) Phân tích kinh tế chuỗi liên kết (doanh thu, chi phí, VA, phân phối lợi nhuận); (4) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi. Tác giả trình bày quy trình thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp qua mẫu điều tra $N = 60$, các bước thảo luận nhóm nông hộ (FGD/PRA), phỏng vấn sâu cán bộ (KIP) và chi tiết hóa các công thức toán kinh tế tính toán $GO$, $IC$, $VA$, $MI$.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phân tích toàn diện thực trạng địa bàn và dữ liệu khảo sát thực tế:
- Điều kiện tự nhiên, KT-XH huyện Bá Thước: Diện tích tự nhiên 77.522 ha (đất nông nghiệp 7.340 ha, lâm nghiệp 50.545 ha). Dân số năm 2016 gồm 26.600 hộ với 108.000 nhân khẩu (người Mường chiếm 57,2%, Thái 31,9%, Kinh 16,8%). GRDP tăng trưởng 12,9%/năm; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 9,0 triệu đồng (2011) lên 14,2 triệu đồng (2015) và đạt 16,5 triệu đồng (2016). Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 50,16% (2011) xuống còn 18,26% (2016).
- Tình hình sản xuất và mùa vụ: Diện tích mía đường tại xã Lương Trung sau năm 2006 đạt khoảng 150 ha (thôn Trung Dương 80 ha, Trung Sơn 40 ha, Chiêm Thái 30 ha). Lịch thời vụ kéo dài 10 - 12 tháng: trồng mới từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 2; bón phân và đánh lá vào tháng 6; thu hoạch tập trung từ cuối tháng 11 đến hết tháng 2 năm sau. Mía đường chiếm 90 - 96% diện tích đất canh tác của các hộ được điều tra.
- Đặc điểm nông hộ trồng mía: Khảo sát 50 hộ cho thấy chủ hộ nam giới chiếm 95%; độ tuổi trung bình là 47,2 tuổi (tập trung cao nhất ở nhóm 41 - 50 tuổi chiếm 42%); trình độ học vấn còn thấp (34% dưới tiểu học, 38% dưới THCS, 18% dưới THPT, 10% đại học). Kinh nghiệm sản xuất mía bình quân 8,3 năm (50% số hộ có trên 10 năm kinh nghiệm). Quy mô đất canh tác bình quân manh mún: 16% số hộ dưới 1 ha, 54% số hộ từ 1 - 3 ha, 30% số hộ trên 3 ha (hộ thấp nhất 0,7 ha, cao nhất 6,0 ha).
- Cơ cấu chi phí sản xuất 1 sào mía: Tổng chi phí sản xuất bình quân đạt 2.080.000 đồng/sào, trong đó chi phí trung gian đầu vào chiếm 1.350.000 đồng/sào và chi phí tăng thêm chiếm 730.000 đồng/sào.
- Phân tích chuỗi và ách tắc vận hành: 100% nông hộ mua phân bón trả chậm từ nhà máy đường. Tuy nhiên, khâu thu hoạch và vận chuyển gặp ách tắc nghiêm trọng: 95% hộ có tỷ lệ hao hụt sản lượng trên 10% (cao nhất lên đến 14%) do thiếu phương tiện cơ giới vận chuyển kịp thời làm mía bị khô, giảm trọng lượng và giảm độ đường CCS. Giá bán giảm sút nghiêm trọng xuống 830 đồng/kg khiến hiệu quả kinh tế của nông hộ suy giảm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các phát hiện định lượng thực nghiệm về kinh tế hộ và chuỗi liên kết mía đường tại huyện Bá Thước thông qua hệ thống bảng biểu chi tiết:
1. Đặc điểm nhân khẩu và kinh nghiệm của hộ sản xuất mía đường
| Tiêu chí phân loại |
Nhóm phân loại |
Tần số (hộ) |
Tỷ lệ (%) |
| Độ tuổi chủ hộ |
Dưới 30 tuổi |
7 |
14,0 |
| (Trung bình: 47,2 tuổi; |
Từ 31 - 40 tuổi |
9 |
18,0 |
| Thấp nhất: 26 tuổi; |
Từ 41 - 50 tuổi |
21 |
42,0 |
| Cao nhất: 77 tuổi) |
Từ 51 - 60 tuổi |
9 |
18,0 |
|
Trên 60 tuổi |
4 |
8,0 |
| Trình độ học vấn |
Dưới tiểu học |
17 |
34,0 |
|
Dưới trung học cơ sở |
19 |
38,0 |
|
Dưới trung học phổ thông |
9 |
18,0 |
|
Đại học |
5 |
10,0 |
| Kinh nghiệm canh tác |
Dưới 5 năm |
4 |
8,0 |
| (Trung bình: 8,3 năm; |
Từ 5 đến 7 năm |
7 |
14,0 |
| Thấp nhất: 4 năm; |
Từ 7 đến 10 năm |
14 |
28,0 |
| Cao nhất: 12 năm) |
Trên 10 năm |
25 |
50,0 |
| Quy mô nhân khẩu |
Dưới 4 người |
12 |
24,0 |
|
Từ 4 đến 5 người |
22 |
44,0 |
|
Trên 5 người |
16 |
32,0 |
| Quy mô diện tích |
Dưới 1 ha |
8 |
16,0 |
| (Thấp nhất: 0,7 ha; |
Từ 1 đến 3 ha |
27 |
54,0 |
| Cao nhất: 6,0 ha) |
Trên 3 ha |
15 |
30,0 |
2. Hạch toán cơ cấu chi phí sản xuất mía đường tính trên 1 sào canh tác
| Khoản mục chi phí |
Giá trị (nghìn đồng/sào) |
Tỷ trọng trong tổng chi phí (%) |
| I. Chi phí đầu vào (Chi phí trung gian - IC) |
1.350 |
64,90 |
| - Chi phí phân bón |
400 |
16,80 |
| - Chi phí thuốc bảo vệ thực vật (sâu bệnh, trừ cỏ) |
700 |
33,60 |
| - Chi phí mua vôi cải tạo đất |
250 |
12,01 |
| II. Chi phí tăng thêm |
730 |
35,10 |
| - Chi phí thuê máy cày làm đất |
180 |
8,65 |
| - Chi phí lao động (lao động thuê ngoài và gia đình) |
150 |
7,21 |
| - Chi phí khác (đắp mô, tưới nước, vận chuyển, dụng cụ, lãi vay) |
400 |
21,73 |
| Tổng giá thành sản xuất (I + II) |
2.080 |
100,00 |
3. Đóng góp và giải pháp đề xuất của tác giả
- Đóng góp mới của đề tài: Khóa luận là công trình đầu tiên ứng dụng khung phân tích chuỗi liên kết kết hợp mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter và ma trận SWOT để khảo sát thực chứng vùng nguyên liệu mía đường tại huyện miền núi Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa – một địa bàn chưa từng có nghiên cứu tương tự trước đó.
- Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
- Thành lập Hợp tác xã / Tổ hợp tác: Tạo đầu mối liên kết ngang giữa các hộ trồng mía nhằm thống nhất quy trình kỹ thuật, đàm phán hợp đồng mua chung vật tư đầu vào giá gốc và tổ chức lịch thu hoạch luân phiên.
- Hoàn thiện liên kết dọc với Nhà máy đường Lam Sơn: Xây dựng hợp đồng bao tiêu minh bạch về giá sàn bảo hiểm cho nông dân khi giá thị trường giảm sâu; duy trì chính sách ứng trước phân bón, giống trả chậm.
- Đầu tư cơ giới hóa và hạ tầng giao thông nội đồng: Đưa máy móc vào khâu cày bừa, làm đất, đồng thời tăng cường phương tiện cơ giới vận chuyển mía ngay sau khi chặt nhằm chấm dứt tình trạng mía tồn đọng gây hao hụt sản lượng (>10%) và suy giảm chữ đường CCS.
- Tập huấn chuyển giao kỹ thuật: Đẩy mạnh khuyến nông, mở lớp chuyển giao quy trình bón phân cân đối, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh để giảm bớt chi phí thuốc bảo vệ thực vật (hiện chiếm tỷ trọng rất cao: 33,6% tổng chi phí).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Quy mô mẫu khảo sát trực tiếp còn tập trung hẹp tại 2 thôn (Trung Dương, Trung Thành) thuộc xã Lương Trung; số lượng mẫu các tác nhân trung gian (4 đơn vị vận chuyển, 1 đại lý vật tư, 1 nhà máy đường) còn khiêm tốn, chưa bao quát toàn bộ các xã có diện tích mía khác trên địa bàn huyện Bá Thước.
- Khóa luận chưa bóc tách và lượng hóa chi tiết dòng phân phối giá trị gia tăng ($VA$) và tỷ suất lợi nhuận ở các khâu chế biến sâu (đường tinh luyện RE, phụ phẩm mật rỉ, bã mía) tại Nhà máy đường Lam Sơn do hạn chế tiếp cận số liệu kế toán chi tiết của doanh nghiệp.
- Dữ liệu khảo sát phản ánh thực trạng biến động giá trong niên vụ 2017 - 2018; chưa có chuỗi số liệu định lượng đa năm tại hộ để so sánh tác động dài hạn của biến động thị trường.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận trong huyện và các huyện lân cận thuộc vùng nguyên liệu phía Tây Thanh Hóa.
- Đi sâu lượng hóa phân phối biên lợi nhuận giữa nhà máy chế biến và nông hộ nhằm đề xuất cơ chế phân chia tỷ lệ lợi ích kinh tế hài hòa hơn trong chuỗi liên kết dọc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho các đối tượng và mục đích học thuật/thực tiễn sau:
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên các ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý đất đai và Kinh tế phát triển.
- Cán bộ quản lý nông nghiệp tại Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Bá Thước, Trạm Khuyến nông, UBND các xã vùng miền núi đang triển khai các chương trình liên kết sản xuất cánh đồng mẫu lớn hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo Nghị quyết 30a.
- Cán bộ phụ trách phát triển vùng nguyên liệu của các công ty/nhà máy mía đường.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
- Bộ công cụ kết hợp giữa phương pháp điều tra thực địa (FGD, PRA, KIP) và khung phân tích chuỗi liên kết theo tiếp cận GTZ ValueLinks.
- Bảng hạch toán chi tiết chi phí sản xuất 1 sào mía đường thực tế của nông hộ miền núi (phân định rõ chi phí trung gian IC và chi phí tăng thêm).
- Phân tích thực chứng về các nguyên nhân gây đứt gãy và tổn thất trong chuỗi liên kết nông sản trung gian (vấn đề độc quyền mua, chậm trễ logistics thu gom làm giảm chất lượng nguyên liệu).
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu chi phí sản xuất 1 sào mía đường của nông hộ tại huyện Bá Thước được phân bổ như thế nào?
Trả lời: Tổng chi phí sản xuất bình quân là 2.080.000 đồng/sào. Trong đó: Chi phí đầu vào (IC) chiếm 1.350.000 đồng (64,9%), gồm chi phí phân bón 400.000 đồng (16,8%), chi phí thuốc trừ sâu bệnh 700.000 đồng (33,6%), chi phí mua vôi 250.000 đồng (12,01%). Chi phí tăng thêm chiếm 730.000 đồng (35,1%), gồm thuê máy cày 180.000 đồng (8,65%), chi phí lao động 150.000 đồng (7,21%), và các chi phí khác (đắp mô, tưới, vận chuyển, dụng cụ, lãi vay) là 400.000 đồng (21,73%).
2. Thực trạng hao hụt sản lượng mía đường trong quá trình thu hoạch và tiêu thụ tại địa bàn nghiên cứu diễn ra ra sao?
Trả lời: Dữ liệu khảo sát chỉ ra chỉ có 5% số hộ có tỷ lệ hao hụt dưới 10%, trong khi 95% hộ còn lại có tỷ lệ hao hụt trên 10% (tỷ lệ hao hụt cao nhất ghi nhận là 14%). Nguyên nhân chủ yếu do địa phương thiếu phương tiện xe cơ giới vận chuyển thu gom, mía sau khi chặt bị để sót lại trên nương hoặc vận chuyển chậm khiến cây mía bị khô, mất nước, hao hụt trọng lượng và giảm hàm lượng đường trong thân cây.
3. Mối quan hệ liên kết cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra giữa nông hộ với Nhà máy mía đường Lam Sơn có đặc điểm gì?
Trả lời: Về đầu vào, 100% nông hộ sử dụng phân bón do Nhà máy mía đường hỗ trợ theo hình thức nhận ứng trước và thanh toán sau khi thu hoạch vụ mía. Về đầu ra, toàn bộ mía cây tại địa bàn được thu mua bởi một kênh duy nhất là Nhà máy đường Lam Sơn. Do phụ thuộc vào kênh tiêu thụ độc quyền này, nông dân không có kênh so sánh giá và hoàn toàn bị động chấp nhận mức giá do nhà máy ấn định (năm 2018 giá mua giảm xuống còn 830 đồng/kg so với mức 1.025 đồng/kg của năm 2017).
4. Đặc điểm nhân khẩu và trình độ của các chủ hộ trồng mía tại xã Lương Trung có điểm gì nổi bật?
Trả lời: Khảo sát 50 hộ cho thấy 95% chủ hộ là nam giới; độ tuổi trung bình là 47,2 tuổi (chủ hộ từ 41 - 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 42%); trình độ học vấn còn hạn chế với 34% dưới tiểu học và 38% dưới THCS (chỉ 10% có trình độ đại học); 50% số hộ có kinh nghiệm canh tác mía trên 10 năm (kinh nghiệm trung bình toàn mẫu là 8,3 năm).
5. Lịch thời vụ canh tác mía đường tại huyện Bá Thước được bố trí như thế nào trong năm?
Trả lời: Canh tác mía tại Bá Thước kéo dài qua các tháng dương lịch: Trồng mía mới bắt đầu từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 2; Bón phân tập trung vào cuối tháng 6 kết hợp đánh lá trong các tháng tiếp theo; Thu hoạch bắt đầu từ cuối tháng 11, đầu tháng 12 và hoàn thành dứt điểm toàn thôn vào cuối tháng 2 năm sau.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Hoa đã phản ánh bức tranh thực chứng về chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ mía đường chuyên canh tại huyện miền núi Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu đã làm rõ sự phụ thuộc gần như tuyệt đối của nông hộ vào Nhà máy mía đường Lam Sơn trong cả khâu ứng trước vật tư và bao tiêu sản phẩm, đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn lớn về chi phí bảo vệ thực vật cao, tình trạng hao hụt sau thu hoạch do vận chuyển chậm và tác động tiêu cực của việc giá mía nguyên liệu sụt giảm. Các phân tích định lượng và giải pháp thành lập hợp tác xã, cơ giới hóa khâu thu gom, minh bạch hóa hợp đồng liên kết dọc là cơ sở dữ liệu có giá trị cho công tác khuyến nông và định hướng tái cơ cấu nông nghiệp tại địa phương.