Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng Chương 2: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp tăng cường sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một khái niệm ngày càng phổ biến và được quan tâm ở Việt Nam, mặc dù xuất hiện muộn hơn so với thế giới. Nhiều nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm đã được thực hiện. Khái niệm chuỗi cung ứng được xây dựng dựa trên nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều mô hình khác nhau, chẳng hạn trong lĩnh vực logistic (Carter và cộng sự, 1993); phân phối sản phẩm (Cavinato và cộng sự,1992).
Phổ biến nhất, chuỗi cung ứng được coi là sự liên kết giữa các khâu từ cung ứng, sản xuất đến tiêu dùng (Lambert và cộng sự, 1998; Mentzer và cộng sự, 2001) hay các dòng chảy hàng hóa từ nhà cung cấp thông qua nhà sản xuất và nhà phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng (Novak và Simco,1991). Trong thực tế, mặc dù có một số nghiên cứu tập trung vào bối cảnh chuỗi cung ứng, hầu hết các nghiên cứu hiện có chỉ thiên về đánh giá một mắt xích cụ thể của chuỗi, hoặc là chỉ tập trung vào một thành phần trong vấn đề hiệu suất chuỗi cung ứng nói chung. Một số nghiên cứu đồng nhất khái niệm và nội dung của thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng và thuật ngữ chuỗi cung ứng (Ganeshan và Harrison, 1995; Lee & Corey, 1992). Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng SCM được đưa ra vào cuối những năm 1980 và được sử dụng rộng rãi vào những năm 1990.
Trước thời điểm đó, các doanh nghiệp đã sử dụng thuật ngữ hậu cần (logistics) và quản trị nghiệp vụ (operation management) để thay thế. Khái niệm SCM được đưa ra vào đầu những năm 1980 bởi các nhà tư vấn trong lĩnh vực hậu cần (Oliver và Webber, 1992). Các tác giả nhấn mạnh rằng chuỗi cung ứng phải được xem như một thực thể duy nhất và việc ra quyết định chiến lược ở cấp cao nhất là cần thiết để quản trị chuỗi theo công thức ban đầu của chúng. Quan điểm này được chia sẻ với các nhà hậu cần cũng như các nhà lý thuyết kênh trong marketing (Gripsrud, 2006).
SCM đã trở thành một trong những khái niệm phổ biến nhất trong quản trị nói chung kể từ khi được giới thiệu (Oliver và Webber, 1992; La Londe, 1997). Một số tác giả đã xem SCM theo thuật ngữ hoạt động liên quan đến dòng chảy nguyên liệu và sản phẩm, một số xem nó như một triết lý quản lý, một số xem nó theo nghĩa của một quá trình quản lý (Tyndall và cộng sự, 1998). SCM bao gồm các khía cạnh khác nhau, từ hậu cần và vận chuyển, quản trị hoạt động, nguyên vật liệu và quản lý phân phối, tiếp thị, cũng như mua bán hàng và công 11 nghệ thông tin (Chen và Paulraj, 2004). Bằng sự tổng hợp các nghiên cứu trước đó của mình, Mentzer đã gợi ý các hoạt động khác nhau cần thiết để thực hiện thành công một triết lý quản trị chuỗi cung ứng bao gồm: hành vi đồng nhất, chia sẻ thông tin, chia sẻ rủi ro và phần thưởng, sự hợp tác, có cùng mục tiêu và cùng tập trung phục vụ khách hàng, thống nhất các quá trình (Mentzer và cộng sự, 2001).
Về nội dung nghiên cứu, theo Carter và Ellram (2003), các nghiên cứu về SCM tập trung vào các chủ đề nghiên cứu chính như sau: chiến lược của SCM; khung thực hiện SCM, xu hướng và thách thức của SCM; các mối quan hệ và liên kết trong SCM; thương mại điện tử và mạng lưới toàn cầu; các chiến lược về thời gian trong SCM; ứng dụng máy tính và trao đổi dữ liệu điện tử; chất lượng của SCM; phát triển, lựa chọn và quản lý nhà cung cấp trong SCM; thuê ngoài sản xuất; trách nhiệm xã hội và trách nhiệm về môi trường; khái niệm về chuỗi cung ứng quốc tế và toàn cầu; hành vi người tiêu dùng; vận tải và hậu cần; quản trị nguồn nhân lực; lập kế hoạch về nhu cầu nguyên vật liệu MRP và các vấn đề liên quan đến pháp luật. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tổng hợp của các tác giả này từ các nghiên cứu trước năm 2003. Cùng với thời gian, các nghiên cứu về SCM ngày càng được mở rộng và đa dạng với nhiều nội dung, góc độ tiếp cận, bối cảnh và lĩnh vực nghiên cứu. Theo Jinesh và cộng sự (2010), có thể chia ra 6 giai đoạn chính trong lịch sử của các nghiên cứu quản lý chuỗi cung ứng bao gồm giai đoạn tạo dựng, tích hợp, toàn cầu hóa, giai đoạn chuyên môn hóa lần 1 và lần 2, và giai đoạn quản trị chuỗi cung ứng 2.
Sáu giai đoạn này mô tả chiến lược trọng tâm của quản trị chuỗi cung ứng trong mỗi thời kỳ nghiên cứu. Ví dụ trong giai đoạn thứ 6, công nghệ thông tin là vấn đề được ưu tiên và chuỗi cung ứng áp dụng công nghệ thông tin là chủ đề trọng tâm nghiên cứu. Về nghiên cứu SCM trong nông nghiệp, nghiên cứu lý thuyết của Ganeshkumar và cộng sự (2017) trên cơ sở nghiên cứu tài liệu về quản trị chuỗi cung ứng nông sản. Nghiên cứu này đã xác định những lỗ hổng cần khám phá về thực hành quản trị chuỗi cung ứng nông sản có thể được các nhà nghiên cứu sử dụng để làm phong phú thêm việc xây dựng lý thuyết và các nhà thực hành có thể tập trung vào việc thiết lập phạm vi và biên giới của SCM nông sản thực phẩm.
Công trình nghiên cứu này là nỗ lực nhằm thực hiện một đánh giá, phê bình về các tài liệu hiện có về thực hành SCM thực phẩm nông nghiệp cho các nước đang phát triển như Ấn Độ. Các bài báo nghiên cứu và các tài liệu khác liên quan đến SCM nông sản thực phẩm được thu thập từ các cơ sở dữ liệu trực tuyến như Scopus, Ebsco Business Source Elite và Google Scholar trong thời gian 10 năm (2006-2016). Nghiên cứu thực hiện phân tích nội dung và sau đó là 12 phân tích mô tả. Cuối cùng, chuỗi cung ứng khoai tây của Ấn Độ được coi là một ví dụ điển hình để phân tích toàn diện và chi tiết.
Nghiên cứu đã xác định những lỗ hổng và vấn đề trong thực hành SCM nông nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng các nhà nông nghiệp Ấn Độ phải chịu đựng nghiêm trọng các rủi ro sau: khả năng thương lượng kém của nông dân, đặt họ dưới lòng thương xót của những thương nhân ích kỷ, những người luôn luôn bóc lột họ đến tận cốt lõi, đất đai manh mún, thặng dư thị trường rất ít, chi phí trồng trọt và sản xuất đắt cắt cổ, khu vực phi chính thức chi phối quá trình tiếp thị nông sản, chuỗi cung ứng nông sản manh mún, cơ sở hạ tầng tiếp thị kém đối với nông sản bị đình trệ, điều kiện thị trường không hoàn hảo đối với hàng hóa nông sản, nông sản thất thoát ồ ạt đến 30% - 60% do kho bãi chưa hiệu quả, tính chất dễ hư hỏng nhanh chóng của hàng hóa có giá trị cao, không có bao bì, nhãn hiệu và chứng nhận hiệu quả, thiếu thông tin thị trường đầy đủ về lợi nhuận thu được từ việc canh tác các loại cây trồng cụ thể, khả năng đàm phán giá kém có nghĩa là nông dân không có khả năng nhận được phần giá trị xứng đáng mà người bán trả cho sản phẩm của họ, tăng thành phần rủi ro lên mức 60% -70%, tương ứng với quá trình sản xuất và tiếp thị nông nghiệp, năng suất thấp dẫn đến lượng sản lượng bị cắt giảm, khó khăn trong việc tiếp cận tài chính, đặc biệt là vốn lưu động; thiếu thông tin sẵn có khiến nông dân không có khả năng tuân thủ các vấn đề an ninh lương thực; không có sẵn bí quyết sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, sự thiếu thành thạo của một bộ phận nông dân trong việc quản lý tài sản, khiến họ không có khả năng thực hiện các sửa đổi danh mục đầu tư phù hợp trong quá trình sản xuất, thiếu công nghệ kỹ thuật phức tạp làm giảm việc sử dụng công suất, dẫn đến tăng sản lượng từ đầu vào một cách ít ỏi, sử dụng quá nhiều phân bón hóa học làm hủy hoại độ phì nhiêu của đất, chất lượng nông sản (Septiani và cộng sự, 2016). Nghiên cứu này là một gợi ý tốt cho bối cảnh Việt Nam, hẹp hơn là khu vực Bắc Trung Bộ với nhiều nét tương đồng, nhất là về mặt thực tiễn. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết chưa có nhiều nghiên cứu sâu về vấn đề này ở Việt Nam.
Nhìn chung các nghiên cứu về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng đã được thực hiện rất đa dạng và phong phú. Nó cung cấp một nền tảng lý luận rất rộng về nhiều khía cạnh của SCM như bản chất, vai trò, nội dung hoạt động, mô hình, các yếu tố ảnh hưởng, hiệu suất của SCM… Tuy nhiên, Luận án này chỉ đề cập trực tiếp đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng trong bối cảnh khu vực Bắc Trung Bộ để từ đó có những đóng góp về mặt thực tiễn cho phát triển chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực này.2 Tổng quan nghiên cứu về sự hợp tác trong chuỗi cung ứng Trong xu thế hiện nay, các tổ chức sản xuất nhận ra rằng để đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh, họ phải cung cấp được các giá trị cho khách hàng tốt nhất ở mức chi phí thấp nhất có thể. Khách hàng ngày càng trở nên khắt khe với thời gian đáp ứng nhanh hơn, thời gian chu kỳ sản phẩm ngắn hơn, sản phẩm và dịch vụ tùy biến. Do vòng đời sản phẩm thu hẹp và cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng, kiến thức của các tổ chức kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc phát triển sản phẩm mới.
Các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội hợp tác với các đối tác bên ngoài trong chuỗi cung ứng để đảm bảo hiệu quả và khả năng đáp ứng của chuỗi cung ứng, để tận dụng các nguồn lực và kiến thức của các nhà cung cấp và khách hàng của họ (Cao và Zhang, 2011).