CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH TRỒNG CÂY ĂN QUẢ 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm cây ăn quả và nghề trồng cây ăn quả Cây ăn quả (ở Nam Bộ gọi là cây ăn trái) là các loại cây trồng hoặc quả rừng mà trái cây được dùng làm thức ăn riêng biệt hoặc ăn kèm. CAQ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống và trong nền kinh tế quốc dân.
Quả là những sản phẩm có giá trị sử dụng rộng rãi, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng vi lượng, khoáng chất bổ dưỡng và là nguồn liệu quí có tác dụng phòng và chữa bệnh cho con người. Theo Trần Thế Tục (1998), nghề trồng CAQ là một bộ phận của sản xuất nông nghiệp, mà đối tượng chủ yếu là những cây lâu năm có quả ăn được.[29] Tùy theo nguồn gốc, xuất xứ và vùng sinh thái mà có thể chia ra CAQ nhiệt đới, CAQ cận nhiệt đới, CAQ ôn đới,… Trồng CAQ có tác dụng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đưa các hộ nông dân từ nghèo lên hộ có thu nhập khá và hộ giàu. Hiệu quả kinh tế và sự ổn định của vườn CAQ gắn liền với cuộc sống định canh định cư, hạn chế phá rừng làm nương rẫy. [37] Hội nhập kinh tế thế giới, sản phẩm quả càng có giá trị thương phẩm cao, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn.
Khoa học CAQ là một nghiên cứu các đặc tính sinh học của CAQ, vị trí và vai trò của chúng trong hệ sinh thái, những qui luật về mối quan hệ giữa CAQ với điều kiện ngoại cảnh. Từ đó đặt cơ sở lí luận cho việc phát triển nghề trồng CAQ với những biện pháp kĩ thuật thích hợp cho từng loại cây trong điều kiện khí hậu, địa điểm cụ thể của nơi trồng nhằm thâm canh tăng năng suất và phẩm chất quả. Việt Nam là nước có nền nông nghiệp phát triển từ lâu đời và trồng CAQ là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Phát triển nghề trồng CAQ đem lại nhiều lợi ích thiết thực đối với đời sống và kinh tế của đất nước.
Phát triển nghề trồng CAQ nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Một số loại CAQ vừa là cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu để chế biến thực phẩm, bánh kẹo, rượu, xirô, đồ hộp, mứt, quả sấy khô. Đặc biệt nước quả ép nguyên chất có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng cũng như chữa bệnh, một số khác dùng để ép dầu cho sản phẩm nổi tiếng 14 như dầu dừa, dầu ô liu,… công nghiệp chế biến quả cũng góp phần giải quyết nhu cầu của đời sống là cung cấp quả quanh năm cho người dân. Mặt khác, nghề trồng CAQ còn mang lại lợi ích kinh tế cho con người và nền kinh tế quốc dân.
Ở Việt Nam, tùy từng vùng trồng, tùy từng loại CAQ khác nhau nhưng nói chung 1ha CAQ cho thu nhập gấp 3 - 4 lần thậm chí gấp 10 lần trồng cây lương thực. Vốn trồng CAQ được thu hồi lại nhanh trong một số năm sau khi cây bước vào thời kì kinh doanh. Mặt khác, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong thời gian qua, cho thấy việc sản xuất CAQ đã tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy nông nghiệp bền vững, an ninh quốc phòng đảm bảo. Điển hình như vùng trồng thanh long ở Bình Thuận, vùng trồng cam ở Phủ Quỳ - tỉnh Nghệ An, vùng trồng cam sành ở Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long,… 1.
Khái niệm về phát triển, phát triển bền vững Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu.[11] Phát triển là một khái niệm chung song mỗi chủ thể kinh tế, hoạt động kinh tế đều có riêng một tiêu chí phát triển dựa theo khả năng, trình độ và công nghệ của từng chủ thể. Năm 1987, trong báo cáo “ Tương lai của chúng ta” của hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) của Liên Hiệp Quốc, đưa ra khái niệm “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển được tổ chức ở Cộng hòa Nam Phi đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là: phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường.
[25] Phát triển bền vững về kinh tế Phát triển bền vững về kinh tế là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế được thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự thay đổi về chất theo hướng tiến bộ của nền kinh tế, gắn với tăng năng suất lao động, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội và môi trường sống. Phát triển bền vững về xã hội 15 Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động, có việc làm thì người lao động mới có quyền, có thu nhập và tự hoàn thiện nhân cách của mình. Người lao động nếu không có việc làm thì sẽ không có thu nhập từ đó dễ nảy sinh tiêu cực, tệ nạn xã hội. Như vậy, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo, làm tăng năng lực sản xuất cho người nghèo, thông qua nâng cao kiến thức, trình độ cho người nghèo, hỗ trợ vốn cho người nghèo.
Xóa đói giảm nghèo còn tạo ra mặt bằng xã hội phát triển tương đối đồng đều, đảm bảo an sinh xã hội - đó là điều kiện cần thiết cho phát triển bền vững. Tăng trưởng kinh tế phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư như: thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân, tỉ lệ sơ sinh, trẻ em tử vong, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng, tỉ lệ bác sĩ/1000 dân, tỉ lệ dân số được dùng nước sạch,… Liên Hiệp Quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI), là chỉ số tổng hợp của 3 chỉ số cơ bản: thu nhập bình quân đầu người, chỉ số về giáo dục (tỉ lệ % người lớn biết chữ) và chỉ số về y tế (tuổi thọ bình quân). Phát triển bền vững về môi trường Trong thực tế, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhiều doanh nghiệp, nhiều quốc gia đã không những khai thác cạn kiệt tài nguyên mà còn thải ra môi trường nhiều chất độc hại làm ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí,… làm mất cân bằng sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu trái đất,… sẽ đe dọa trực tiếp cuộc sống của con người hiện tại (và cả thế hệ tương lai). Vì vậy, nội dung của phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm môi trường, không làm hủy hoại môi trường.
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với nuôi dưỡng và cải thiện chất lượng môi trường, nghĩa là: bảo vệ và trồng mới rừng, trồng cây phân tán, trồng CAQ,… chống xói mòn, tăng độ phì cho đất. Trong sản xuất, áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường; sáng tạo ra nhiều vật liệu mới thay thế vật liệu truyền thống; sử dụng vật tư, nguyên liệu vào sản xuất một cách khoa học và hợp lí để bảo vệ lí tính, hóa tính của đất, tài nguyên nước; bảo vệ nguồn lợi hải sản,… Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lí và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên có nghĩa là: phải có kế hoạch lựa chọn, cân nhắc khi quyết định khai thác tài nguyên, xét cả về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Với lịch sử hình thành như khái niệm đã nêu ra ở trên, phát triển bền vững không đưa 16 ra một khuôn mẫu nào đó để áp dụng cho tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương, mà phải thay đổi theo từng thời kì, từng vùng lãnh thổ, từng nền văn hóa và từng hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể. Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững Theo Đỗ Kim Chung và cộng sự (2009), Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình đảm bảo hài hòa 3 nhóm mục tiêu: Kinh tế, xã hội và môi trường, thõa mãn về nhu cầu nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai.[8] Phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm các nội dung: Thứ nhất, tăng năng suất nông nghiệp một cách bền vững và ổn định.
Chỉ có tăng năng suất mới có thể áp dụng được nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản xuất nông nghiệp. Việc tăng năng suất này phải được thực hiện một cách ổn định, bền vững và nông nghiệp không bị chao đảo trước những cú sốc của thị trường. Tăng năng suất nông nghiệp trước hết phải tăng hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và vốn, sử dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm để thõa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp. Thứ hai, phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm các biện pháp thực hiện sự công bằng về phân phối, chia sẻ sản phẩm nông nghiệp và tài nguyên nông nghiệp.
Vì vậy, chiến lược phát triển thủy lợi, phân bón, giống,… phải tính tới yếu tố công bằng cho sự phát triển của nền nông nghiệp. Thứ ba, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể phát triển bền vững khi tài nguyên thiên nhiên, đất, nước được sử dụng hợp lí. Trong chiến lược phát triển bền vững nông nghiệp, cần phải có các nội dung bảo vệ, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với phát triển nông - lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Thứ tư, sự công bằng giữa các thế hệ và hoàn thiện chất lượng cuộc sống. Sự phát triển nông nghiệp được gọi là bền vững khi mà các hoạt động hiện tại của sản xuất không làm ảnh hưởng xấu mà chỉ làm tốt hơn các khả năng phát triển của các thế hệ mai sao. Để làm được điều đó, sự tham gia của nhóm người hưởng lợi, sự công bố công bằng lợi ích và khả năng tự lập là những yếu tố cơ bản của các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn.