Chương 1- Giới thiệu: Nhằm giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu của luận văn. Trang 3 Chương 2- Cơ sở lý thuyết : Trình bày các khái niệm liên quan: Hộ gia đình, chăm sóc y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình, chi tiêu y tế của hộ gia đình; Các lý thuyết : Lý thuyết nhu cầu của Maslow, lý thuyết nhu cầu sức khỏe, lý thuyết lựa chọn của người tiêu dùng, hành vi ra quyết định chi tiêu y tế hộ gia đình, các yếu tố tác động đến chăm sóc sức khỏe và chi tiêu y tế. Một số nghiên cứu trước đây của các tác giả khác nhau có liên quan đến vấn đề chi tiêu y tế của hộ gia đình cũng được trình bày trong chương này. Chương 3- Phương pháp nghiên cứu: xây dựng hướng tiếp cận nghiên cứu.
Từ hướng tiếp cận và các lý thuyết trình bày ở chương hai sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu với các kỳ vọng phù hợp. Phương pháp nghiên cứu và cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này. Chương 4- Phân tích kết quả nghiên cứu: mô tả đặc điểm của các biến trong mô hình, kết quả nghiên cứu định lượng, những thảo luận từ kết quả nghiên cứu. Giải thích rõ những yếu tố tác động đến quyết định chi tiêu y tế của hộ gia đình Việt Nam.
Chương 5- Kết luận và khuyến nghị : Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu, nhận xét rút ra từ những kết quả nghiên cứu được tóm tắt và đề xuất một số giải pháp đối với chính sách y tế Việt Nam. Đồng thời, chương này cũng chỉ ra những hạn chế trong đề tài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. Trang 4 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tác giả trình bày các nội dung về khái niệm và lý thuyết, những nghiên cứu trước đây của các tác giả khác nhau có liên quan đến đề tài nghiên cứu về chi tiêu y tế của hộ gia đình. Hộ gia đình Theo Bộ luật dân sự (2005), hộ gia đình bao gồm các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.
Trong một hộ gia đình, chủ hộ là người đại diện trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha hoặc mẹ hoặc các thành viên khác trong hộ đã thành niên đều có thể là chủ hộ. Đối với những hộ có từ hai người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất khái niệm gia đình bởi những người trong một hộ có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, hôn nhân với nhau.
Hộ gia đình trong VHLSS là một số người cùng chia xẻ chỗ ở, thu nhập, chỉ tiêu ít nhất 6 tháng trong vòng 12 tháng. Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong đề tài nghiên cứu. Chăm sóc sức khỏe (CSSK) Chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng có quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên không giống các loại dịch vụ khác, CSSK có một số đặc điểm riêng: Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu CSSK mức độ khác nhau.
Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên người ta thường gặp khó khăn trong chi trả và các chi phí y tế không lường trước được. Dịch vụ y tế là một loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) không thể hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế). Cụ thể khi người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh, việc Trang 5 điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định. Như vậy, người bệnh có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó người chữa cho mình chứ không chủ động lựa chọn phương pháp điều trị.
Mặt khác, do dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền tới tính mạng con người và mặc dù không có tiền nhưng vẫn phải KCB (Lê Quang Cường, 2004 trích bởi Huỳnh Lưu Anh Phương, 2014). Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình Nhu cầu CSSK là sự đòi hỏi, sự lựa chọn của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân đối với các dịch vụ y tế vào mục đích chăm sóc sức khỏe hoặc khám chữa bệnh cho bản thân hay người nhà một cách tự nguyện, phù hợp với điều kiện của họ. Họ sẵn sàng chi trả mức phí sử dụng các dịch vụ y tế cho nhà cung cấp ( trung tâm y tế, bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân, các phòng khám) theo yêu cầu. Ngược lại các nhà cung cấp dịch vụ y tế cần đầu tư cơ sở hạ tầng, trang bị máy móc, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại để đáp ứng nhu cầu đó.
Nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) gắn liền với sự phát triển kinh tế và trình độ phát triển của xã hội về mọi mặt, khi ngành y tế phát triển thì nhu cầu KCB của nhân dân sẽ càng cao và rất đa dạng. Cuộc sống hiện đại ngày càng được nâng cao kéo theo đó là tỷ lệ số người mang trong mình những căn bệnh hiểm nghèo ngày một nhiều. Người ta dần quan tâm hơn đến sức khỏe của chính bản thân mình và những thành viên trong gia đình. Mặt khác, ngày nay cùng với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, người dân đã có ý thức hơn trong việc CSSK cho bản thân và gia đình, khi gia đình có người ốm đau là họ đã lo lắng và đi KCB bằng hình thức này hay hình thức khác (mua thuốc điều trị, đến trạm y tế xã, đến phòng khám tư, đến bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện tư nhân.) tùy theo điều kiện của mỗi hộ gia đình.
Như vậy là nhu cầu CSSK của người dân trong những năm gần đây ngày càng gia tăng, làm cho tình trạng quá tải các bệnh viện, nhất là các bệnh viện chuyên khoa tuyến Trung ương ngày càng trầm trọng (Trần Đăng Khoa, 2013). Heller (1982) giải thích rằng nhu cầu CSSK bao gồm hai yếu tố cơ bản: yếu tố hành vi và yếu tố sinh lý. Nhu cầu KCB được điều trị bởi các cơ sở y tế với hy vọng chữa khỏi bệnh. Nhu cầu KCB bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm nhận của cá nhân về sức khỏe: tần số bệnh và yếu tố kinh tế làm nền tảng cũng như bất cứ loại hàng hóa thông thường khác: thu nhập và giá cả thị trường.
Tuy nhiên, chi tiêu y tế có tồn tại khác biệt lớn về chất lượng của các dịch vụ y tế khác nhau. Điều này, phản ánh vai trò của yếu tố kinh tế (Heller, 1982). Nhu cầu CSSK phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sự phổ biến của Trang 6 các loại bệnh ở các vùng khác nhau và nhu cầu riêng biệt của từng bộ phận dân cư hay dân tộc (PAHE, 2011). Chi tiêu y tế của hộ gia đình Theo Bộ y tế (2008), Chi tiêu y tế hộ gia đình là tổng số tiền hộ gia đình phải chi cho tất cả các khoản có liên quan đến y tế bao gồm phòng bệnh, nâng cao sức khỏe và khám, chữa bệnh.
Chi tiêu y tế của hộ gia đình có thể là các khoản chi trả trước khi bị ốm (mua BHYT), chi trực tiếp từ ngân sách của hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ y tế (thanh toán viện phí, chi mua thuốc điều trị, …), chi phí gián tiếp liên quan KCB tại các cơ sở y tế công và tư nhân. Theo VHLSS, chi tiêu y tế của hộ gia đình là các khoản chi tiêu khám chữa bệnh nội trú, khám chữa bệnh ngoại trú, các khoản chi mua bảo hiểm y tế, chi mua dụng cụ y tế, thuốc tự điều trị… trong vòng 12 tháng trước khi khảo sát. Lý thuyết nhu cầu của Maslow Tháp nhu cầu của Maslow (Maslow’s hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham H. Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A theory of HumanMotivation.1: Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow Trang 7 Những nhu cầu của con người theo 5 tầng tháp, tầng đáy tháp là các nhu cầu cơ bản, tiến lên cao hơn của tháp là những nhu cầu bậc cao.
Khi các nhu cầu cơ bản được thỏa mãn, con người có xu hướng muốn được thỏa mãn các nhu cầu cao hơn. Tầng thứ nhất: Nhu cầu vật chất, đây là nhu cầu căn bản nhất trong 5 tầng nhu cầu theo Maslow (Maslow, 1943). Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn: nơi cư trú, môi trường về an ninh, chăm sóc sức khỏe,. Tầng thứ ba: Nhu cầu tình cảm xã hội, là nhu cầu bậc cao của con người.
Con người luôn mong muốn được sự quan tâm của các thành viên trong xã hội như gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp,… khi đó họ tự tin hơn để khẳng định vai trò, vị trí của mình trong xã hội. Tầng thứ tư: Nhu cầu được tôn trọng, được đối xử bình đẳng, được tôn trọng và được lắng nghe dù là người giàu hay nghèo, người lành lặn hay người khiếm khuyết, nam hay nữ, trẻ con hay người già,… Tầng thứ năm: Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển qua học tập, nghiên cứu, lao động và sáng tạo để được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân và được xã hội công nhận những đóng góp của chính bản thân. Như vậy nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trong đề tài nghiên cứu là một trong những nhu cầu ở tầng thứ hai của tháp Maslow. Lý thuyết nhu cầu sức khỏe Mô hình yếu tố quyết định cho sức khỏe được đề xuất lần đầu tiên bởi Grossman (1972b, 1999).
Tác giả lập luận rằng “sức khỏe tốt” là một mặt hàng được sản xuất bởi cá nhân và nhu cầu chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc từ nhu cầu cho một sức khỏe tốt (Grossman 1972b, 1999). Theo như lập luận trên, mặt hàng “sức khỏe tốt” được xem là một phần của vốn con người. Mặt hàng này xác định tổng thời gian mà cá nhân có thể phân phối cho hoạt động sản xuất trên thị trường hoặc lĩnh vực phi thị trường (Wale, 2008).