Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu - Chỉ ra tầm quan trọng của các yếu tố, thông qua kết.quả định lượng, và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này lên chi tiêu y tế của hộ gia đình. Ket cấu luận văn Luận văn nghiên cứu được trình bày theo năm chương. Các chương dự kiến được trình bày như sau: Chương một giới thiệu tổng quan nghiên cứu và giải thích tàm quan trọng của luận văn. Chương hai giới thiệu cơ sở lý thuyết của luận văn.
Ở chương này, các lý thuyết về nhu’Cầu cho sức khỏe, lý thuyết hành vi người tiêu dùng, lý thuyết quyết định chi tiêu của hộ, lý thuyết về mối quan hệ giữa các nguồn lực với chi tiêu chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình được giới thiệu. Đồng thời, một số nghiên cứu trước đây của các tác giả khác nhau có liên quan đến chủ đề chi tiêu y tể của hộ gia đình cũng được trình bày trong chương này. Chương ba xây dựng hướng tiếp cận nghiên cứu. Từ hướng tiếp cận và các lý thuyết trình bày ở chương hai, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu với các kỳ vọng phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu và cách thức đo lường các biển trong mô hình nghiên cứu cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này. Chương bốn mô tả đặc điểm thống kê của các biến trong mô hình, kết quả nghiên cửu định lượng và những thảo luận từ kết quả nghiên cứu. Tác động của các yếu tố lên chi tiêu y tế của các nhóm hộ gia đình sẽ được giải thích rõ. Chượng năm, các kết quả nghiên cứu chính và những nhận xét rút ra từ ■ị những kết quả này sẽ được tóm tắt lại.Chương này cũng chỉ ra giới hạn trong nghiên cứu và đề xuất gợi ý cho những nghiên cửu tiếp theo.
Trang 4 Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cửu CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày các lý thuyết về cầu y tể và các lý thuyết liên quan đến việc lựa chọn tiêu dùng cho chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình. Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề chi tiêu cho y tế của các hộ gia đình cũng sẽ được đề cập và tổng hợp ở chương này. Hộ gia đình Theo điề,u 106 Bộ luật dân sự (2005), hộ gia đình bao gồm các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Theo quy định của Bộ luật dân sự (2005) thì chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ.
Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Đối với những hộ có từ hai người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai. Hộ gia đình trong VHLSS là một số người cùng chia sẻ chỗ ở, thu nhập, chi tiêu ít nhất 6 tháng trong vòng 12 tháng.
Trong đề tài nghiên cứu, khái niệm hộ gia đình được hiểu là một nhóm người cùng chia sẻ chỗ ở, thu nhập, chi tiêu ít nhất 6 tháng trong vòng 12 tháng. Chăm sócy tế Chăm sóc y tế (healthcare) không phải là một thuật ngữ kinh tế và có ý nghĩa rất rộng. Sau đây là một trong số nhũng định nghĩa về chăm sóc y tế do tổ Trang 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu chức Maryland Attorney General (2004, pp. 25-26): “Chăm sọc sức khỏe có nghĩa là bất kỳ hoạt động chăm sóc, điều trị hoặc các phương thức cung cấp dịch vụ sức khỏe để: - Chẩn đoán, đánh giá, phục hồi, quản lý, điều trị, duy trì thể chất hoặc tinh thần của một cá nhân, hoặc - Làm ảnh hưởng đến cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể con người”.
Chi tiêuy tế của hộ gia đình (Household healthcare expenditure) Theo Bộ y tế (2008): Chi tiéuý tế hộ gia đĩnh là tổng số tiền hộ gia đình phải chi cho tất cả các khoản có liên quan đến y tế, bao gồm phòng bệnh, nâng cao sức khỏe và khám, chữa bệnh. Chi của hộ gia đình có thể là các khoản chi trả trước khi bị ốm (chi mua BHYT) hoặc chi trực tiếp từ ngân sách của hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ y tế (thanh toán viện phí, chi mua thuốc điều trị,.) Chi tiêu trực tiếp từ ngân sách của hộ gia đình cho y tế là khoản tiền hộ gia đình phải trả trực tiếp cho dịch vụ y tế khi sử dụng dịch vụ, chủ yếu là chỉ mua thuốc, chi trả viện phí, chi phí xét nghiệm, chẩn đoán cận lâm sàng và các chi phí gián tiếp khác liên quan đến KCB ở các cơ sở y tế công và tư nhân (trong đó có việc tự mua thuốc điều trị). Theo VHLSS 2012, chi tiêu y tế của hộ gia đình là các khoản chi tiêu cho chi phí khám chữa bệnh nội trú, khám chữa bệnh ngoại trú, các khoản chi mua bảo hiểm y.tế, chi mua dụng cụ y tế, thuốc tự điều trị,.trong vòng 12 tháng ■ị trước khi khầo sát. Lý thuyết cầu sức khỏe Mô hình yếu tố quyết định cho sức khỏe được đề xuất lần đầu tiên bởi Grossman (1972b, 1999).
Tác giả lập luận rằng “sức khỏe tốt” là một mặt hàng được sản xuất bởi cá nhân và nhu cầu chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc từ nhu cầu cho một sức khỏe tốt (Grossman, 1972b, 1999). Theo như lập luận trên, mặt hàng “sức khỏe tốt” được xem là một phần của vốn con người, mặt hàng này xác định tổng thời gian mà cá nhân có thể phân phối cho hoạt động sản xuất trên thị Trang 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu trường hoặc lĩnh vực phi thị trường (Wale, 2008). Từ phát hiện trên, Grossman (1972b) xây dựng mô hình cá nhân sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dùng thời gian trong cuộc sống để tạo ra sức khỏe cho chính mỗi cá nhân. Với mô hình xây dựng, Grossman (1972b) giả định các cá nhân có thể đầu tư để tạo ra sức khỏe tốt cho đến khi chi phí cận biên của việc tạo ra sức khỏe bằng với lợi ích cận biên của nó.
Trong khi đó, tình trạng sức khỏe được giả định ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian hoạt động tạo ra thu nhập của mỗi cá nhân. Grossman (1972b) cho rằng tất cả các cá nhân được sinh ra với một sức khỏe ban đầu. Sức khỏe này có hai đặc tính quan trọng: (1) Mất đi theo thời gian; (2) Có thê tăng lên nhờ vào hành vi đâu tư cho việc chăm sóc sức khỏe. Các thông số đại diện trong mô hình là tỷ lệ khấu hao (đại diện theo độ tuổi), chi phí đầu tư vào y tế (thể hiện qua giá cả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe), mức thu nhập và trình độ học vẩn của mỗi cá nhân.
Theo đó, nhu cầu sức khỏe tăng lên theo thu nhập, thu nhập tăng lên đồng nghĩa với giá trị thời gian lao động tăng. Giáo dục cũng làm tăng cầu cho sức khỏe. Một yếu tố được kỳ vọng ảnh hưởng lớn đến sức'khỏe chính là lối sống của mỗi người. Lối sống thể hiện qua hành vi của mỗi người, người nào có hành vi tốt, tuân thủ việc ăn uống điều độ, thường xuyên thăm khám sức khỏe,.sẽ có thể giữ hoặc tăng sức khỏe, ngược lại, có hành vi không tốt như thường xuyên hút thuốc, uống rượu,.sẽ làm giảm sức khỏe của họ.
Một hầm thỏa dụng cá nhân được Grossman (1972b, 1999) xây dựng như sau: ì U = U(0tHt,Zt), t = o,l,.1) Trong đó: Ht: Sức khỏe tại thời điểm t 0t: Lợi ích tạo ra bởi một đơn vị sức khỏe ht = 0t/7t: Sức khỏe đã tiêu thụ tại thời điểm t zt: Các hàng hóa tiêu thụ tại thời điểm t n: Thời gian sổng của một cá nhân Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu Grossman (1972b) tiếp tục xây dựng mô hình mô tả tình trạng sức khỏe thay đổi khi được đầu tư như sau: Ht+1 = 8tHt (2.2) Trong phương trình: zt_đầu tư chăm sóc sức khỏe; ỗt_Ịỷ lệ khấu hao của sức khỏe tại thời điểm t, st thay đổi theo tuổi tác của con người. Nguồn gốc Tt và zt được tạo ra bởi các phương trình: It = It(Mt,THt;E') (2.4) Trong đo, Mt_yếu tố đầu vào ghi nhận trong tổng đầu tư cho sức khỏe; THt_ịhời gian dành cho cải thiện sức khỏe; xt_cẳc yếu tố đầu vào để sản xuất mặt hàng zt; E_thành phần vốn con người. Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cá nhân đều bị giới hạn bởi quy tắc nguồn lực khan hiếm, trong trường hợp này là sự ràng buộc ngân sách và thời gian, vì vậy để sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, các cá nhân phải cân bằng ngân sách và thời gian của họ.+ TWt + THt + Tt + TLt = ú) (2.6) Trong đó: Pt, Ọt_giá của Mt và xt; wt_đơn giá tiền lương (tính theo giờ); TlVt_thời gian cá nhân tham gia sản xuất; i40_tai sản ban đầu của mỗi cá nhân tích lũy được. ị -ị TLt_thời gian cá nhân không thể tham gia sản xuất do bệnh tật/chấn thương.
áJ_hạn chế của thời gian (ứ) = 365 ngày, đối với trường hợp đặc biệt, (í) = 366 ngày) Từ phương trình (2.1) đến phương trình (2.6) liên kểt tạo thành mô hình Grossman và xác định cầu sức khỏe. Cũng chính từ nhu cầu cho sức khỏe, con người tiến đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe để duy trì các hoạt động của họ. Trang 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu 2. Hành vi ra quyết định chi tiêu của hộ gia đình Douglas (1983, trích bởi Đinh Thị Tâm, 2013) cho rằng hành vi ra quyết định của hộ gia đình được thực hiện với những cân nhắc cụ thể như: - Quá trình ra quyết định chung của gia đình cần phải được cân nhắc trên cơ sở nắm bắt nhu cầu của các thành viên nhằm mục tiêu tối đa hóa hữu dụng, tránh những lựa chọn bất lợi.
- Việc ra quyết định của hộ gia đình không chỉ chịu tác động từ các thành viên trong hộ mà còn chịu sự chi phối từ các yếu tố bên ngoài. Các nhân tố này có thể từ người tư vấn, bán hàng hoặc các đối tượng ỳ , khác có khả năng tác động đên việc ra quyêt định đó.