Mở đầu Chƣơng 2 : Cở sở lý luận Chƣơng 3: Thực trạng phân tích mối quan hệ chi phí- khối lƣợng – lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dƣợc Hậu Giang và kết quả mô hình nghiên cứu Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện việc phân tích mối quan hệ chi phí- khối lƣợng – lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dƣợc Hậu Giang và đánh giá mô hình nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị GVHD: Thái Thị Bích Trân 5 SVTH: Trác Thành Xuân Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang và các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích công cụ này CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Một số vấn đề chung về chi phí và phân loại chi phí 2.1 Khái niệm chi phí Chi phí có thể đƣợc hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt đƣợc một mục đích nào đó. Bản chất của chi phí là phải mất đi để đối lấy một kết quả. Kết quả có thể dƣới dạng vật chất nhƣ sản phẩm, tiền, nhà xƣởng,… hoặc không có dạng vật chất nhƣ kiến thức, dịch vụ đƣợc phục vụ.Kế toán chi phí.2 Phân loại chi phí 2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động: Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động là cách phân loại cơ sở, hầu nhƣ phải thực hiện trƣớc khi tiến hành các cách phân loại khác đối với tổng chi phí, nhằm đáp ứng nhũng yêu cầu quản lý khác nhau. Tác dụng của cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động gồm: + Cho thấy vị trí, chức năng của từng khoản mục chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức.
+ Là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm và tập hợp chi phí theo từng hoạt động chức năng. + Cung cấp thông tin có phƣơng pháp cho việc lập các báo cáo theo các mặt hoạt động, hoặc theo từng phạm vi trách nhiệm. kế toán quản trị. trang 38) Theo cách phân loại này thi chi phí đƣợc chia ra thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất: a.
Chi phí sản xuất: Là toàn bộ chi phí liên quan đến việc chế tạo sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Hoạt động của một doanh nghiệp sản xuất gắn liền với sự chuyển biến của nguyên liệu thành thành phẩm thông qua sự nỗ lực của công nhân và việc sử dụng thiết bị sản xuất, do đó chi phí sản xuất của một sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất đƣợc tạo thành từ 3 yếu tố cơ bản sau: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là biểu hiện bằng tiền những nguyên vật liệu chủ yếu tạo thành thực thể của sản phẩm nhƣ: sắt, thép, gỗ, sợi,… và những loại nguyên vật liệu có tác dụng GVHD: Thái Thị Bích Trân 6 SVTH: Trác Thành Xuân Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang và các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích công cụ này phụ, nó kết hợp với nguyên vật liệu chính để sản xuất ra sản phẩm hoặc làm tăng chất lƣợng của sản phẩm, hoặc tạo ra màu sắc, mùi vị sản phẩm, hoặc làm rút ngắn chu kỳ sản xuất của sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đƣợc tính trực tiếp vào các đối tƣợng chịu chi phí. Chi phí nhân công trực tiếp: Nhân công trực tiếp là những ngƣời trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, lao động của họ gắn liền với việc sản xuất sản phẩm, sức lao động của họ đƣợc hao phí trực tiếp cho sản phẩm do họ sản xuất ra.
Khả năng và kỹ năng của lao động trực tiếp sẽ ảnh hƣởng đến số lƣợng và chất lƣợng của sản phẩm. Chi phí nhân công trực tiếp là tiền lƣơng chính, lƣơng phụ, các khoản trích theo lƣơng (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN) và các khoản phải trả khác cho công nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí nhân công trực tiếp đƣợc tính trực tiếp vào các đối tƣợng chịu chi phí. Chi phí sản xuất chung: Là những khoản chi phí liên quan đến việc quản lý sản xuất và phục vụ sản xuất tại phân xƣởng.
Chi phí sản xuất chung là những chi phí phát sinh ở phân xƣởng sản xuất để sản xuất ra sản phẩm nhƣng không kể chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, bao gồm các khoản chi phí nhƣ tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng của nhân viên phân xƣởng, chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí công cụ dùng trong phân xƣởng, chi phí khấu hao tài sản cố định tại phân xƣởng, chi phí sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, chi phí quản lý tại phân xƣởng,… Chi phí này phải phân bổ vào chi phí sản xuất sản phẩm ở các bộ phận khác nhau: Tổng chi phí SXC Chi phí SXC cần phân bổ = x Tiêu thức cần phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ b. Chi phí ngoài sản xuất: Là những chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên quan đến việc quản lý chung và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa bao gồm: GVHD: Thái Thị Bích Trân 7 SVTH: Trác Thành Xuân Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang và các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích công cụ này Chi phí bán hàng: Là những chi phí phát sinh cần thiết để đảm bảo chi việc thực hiện đơn đặt hàng, giao thành phẩm cho khách hàng, bao gồm các khoản chi phí nhƣ: chi phí vận chuyển, chi phí bốc vác, chi phí bao bì, chi phí lƣơng nhân viên bán hàng, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí khấu hao tài sản cố định và những chi phí liên quan đến khâu dự trữ thành phẩm. Loại chi phí này xuất hiện ở tất cả các loại hình doanh nghiệp nhƣ sản xuất, thƣơng mại, dịch vụ. Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ những khoản chi phí chi ra cho việc tổ chức và quản lý chung trong toàn doanh nghiệp.
Đó là những chi phí nhƣ chi phí nguyên vật liệu, công cụ, đồ dùng quản lý, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng chung trong toàn doanh nghiệp, chi phí dịch vụ mua ngoài nhƣ điện, nƣớc, điện thoại, sửa chữa tài sản, các chi phí về văn phòng phẩm, tiếp tân, hội nghị, đào tạo cán bộ. Tất cả các loại hình doanh nghiệp đều phát sinh loại chi phí này.2 Phân loại chi phí theo thời kỳ SXKD: a) Chi phí sản phẩm: Là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản xuất mua các sản phẩm. Đối với các sản phẩm sản xuất công nghiệp thì các chi phí này bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Các chi phí gắn liền với sản phẩm và đƣợc chuyển sang kỳ sau khi sản phẩm tồn kho chờ bán, hoặc lúc tiêu thụ đƣợc chuyển vào phí tổn thời kỳ đƣợc trừ ra khi xác định KQKD.
b) Chi phí thời kỳ : Là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và đƣợc tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí thời kỳ. Chi phí thời kỳ sẽ đƣợc tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị cho dù kết quả hoạt động của đơn vị đạt ở mức nào đi nữa. Chi phí thời kỳ ngay khi phát sinh đã đƣợc coi là phí tổn trong kỳ.3 Phân loại chi phí trong kiểm tra và ra quyết định: a) Chi phí trực tiếp và gián tiếp: - Chi phí trực tiếp: GVHD: Thái Thị Bích Trân 8 SVTH: Trác Thành Xuân Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang và các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích công cụ này Là những chi phí phát sinh đƣợc tính trực tiếp vào các đối tƣợng sử dụng nhƣ: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, nó đƣợc tính thẳng vào từng đơn đặt hàng, từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm,.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh không thể tính trực tiếp vào các đối tƣợng sử dụng, mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù hợp. Ví dụ nhƣ chi phí sản xuất chung sẽ đƣợc phân bổ cho các đối tƣợng sử dụng theo số giờ lao động trực tiếp, số giờ máy, số lƣợng sản phẩm sản xuất,. b) Chi phí chênh lệch: - Nhà quản trị thƣờng phải đứng trƣớc việc lựa chọn những phƣơng án khác nhau, quyết định sẽ đƣợc hình thành chủ yếu là dựa vào các chi phí của từng phƣơng án. - Chi phí chênh lệch là chi phí có trong phƣơng án này nhƣng lại không có hoặc chỉ có một phần trong phƣơng án khác.
Chi phí chênh lệch là căn cứ giúp cho nhà quản trị lựa chọn phƣơng án kinh doanh. c) Chi phí kiểm soát đƣợc và không kiểm soát đƣợc: - Chi phí kiểm soát đƣợc đối với một cấp quản lý là những chi phí mà nhà quản trị cấp đó đƣợc quyền ra quyết định. - Chi phí không kiểm soát đƣợc đối với một cấp quản lý là những chi phí mà nhà quản trị cấp đó không đƣợc quyền ra quyết định. d) Chi phí cơ hội : Là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi chọn phƣơng án này thay vì chọn phƣơng án khác.
Chi phí cơ hội không chỉ đƣợc dùng để so sánh lợi ích về mặt kinh tế, mà nó còn đƣợc dùng để đánh giá quan hệ chi phí- lợi ích phi tài chính của những lựa chọn. Lúc này, chi phí cơ hội đƣợc thể hiện bằng đơn vị phi tiền tệ. e) Chi phí chìm: Là những chi phí đã phát sinh trong quá khứ. Do đó, chi phí chìm không ảnh hƣởng gì đến các chi phí trong tƣơng lai, và không thể bị thay đổi vì bất kỳ hành động nào trong hiện tại hay trong tƣơng lai.
Ví dụ, chi phí sản xuất của thành phẩm tồn kho hay chi phí mua sắm thiết bị. Dù thiết bị hay hàng tồn kho hiện nay vô dụng, chi phí để có chúng cũng không thể bị thay đổi vì bất kỳ hành động nào GVHD: Thái Thị Bích Trân 9 SVTH: Trác Thành Xuân Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang và các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích công cụ này trƣớc mắt hay sau này. Do vậy, chi phí chìm không thích hợp cho quyết định trong tƣơng lai.