CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC) 1. TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Chi phí sản xuất a. Bản chất của chi phí sản xuất Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau.
TS Nguyễn Văn Công (2007), chi phí sản xuất (CPSX) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)”. Hay, “Chi phí sản xuất là những tổn thất về nguồn lực kinh tế, về tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh” (TS. Huỳnh Lợi, 2009); hoặc “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí đã đầu tư cho việc sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)” (Võ Văn Nhị, 2007) Những nhận thức chi phí có thể khác nhau về quan điểm, hình thức thể hiện chi phí, nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: CPSX là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Đây chính là bản chất kinh tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân loại chi phí sản xuất + Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế Theo cách phân loại này những chi phí có tính chất, nội dung kinh tế giống nhau xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong 8 lĩnh vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu. Toàn bộ CPSX của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuất. - Chi phí nhân công: Gồm toàn bộ số tiền công phải trả cho công nhân sản xuất, tiền trích BHXH, KPCĐ, BHYT của công nhân sản xuất. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số trích khấu hao của những tài sản cố định dùng cho sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như tiền điện, nước… - Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí trên. Phân loại chi phí theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại CPSX mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bảng thuyết minh báo cáo tài chính, phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí cho kỳ sau. + Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế của chi phí Theo cách phân loại này CPSX được chia thành: - Chi phí NVL trực tiếp: Là toàn bộ các chi phí nguyên liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu khác…được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp: Là các chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH, KPCĐ, BHYT trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp.
- CPSX chung: Là các khoản CPSX ngoại trừ chi phí NVL trực tiếp, nhân công trực tiếp như: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất… Phân loại CPSX theo cách này giúp quản lý định mức chi phí, cung cấp số liệu cho công tác tính GTSP của doanh nghiệp. 9 + Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với đối tượng tập hợp chi phí Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán gồm các loại sau: - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí, có thể quy nạp trực tiếp vào từng đối tượng chịu chi phí như chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp… - Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chi phí như chi phí NVL phụ, chi phí nhân công phụ, chi phí quảng cáo… Với chi phí gián tiếp, nguyên nhân gây ra chi phí và đối tượng chịu chi phí rất khó nhận dạng. Vì vậy, thường phải tập hợp chung, sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí. Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp tác động tích cực đến nhận thức, lựa chọn phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí thích hợp, giúp nhà quản lí có thể đưa ra được các quyết định chính xác hơn.
+ Phân loại chi phí sản xuất theo một số tiêu thức khác Ngoài những cách phân loại chi phí như trên, CPSX còn được phân loại theo một số tiêu thức khác như: - Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí với kỳ tính kết quả, chi phí trong kỳ kế toán được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. - Theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (mô hình ứng xử chi phí) chi phí trong kỳ kế toán bao gồm định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp. - Căn cứ vào khả năng kiểm soát chi phí, CPSX được chia thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được. Giá thành sản phẩm a.
Bản chất của giá thành sản phẩm Theo Nguyễn Văn Công, 2008, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành nhất định. Huỳnh Lợi, 2009, giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành nhất định. 10 Mặc dù, các quan điểm về giá thành có sự khác nhau như trên nhưng nhìn chung tất cả đều thể hiện rõ bản chất của giá thành là sự hao phí nguồn lực để sản xuất sản phẩm tính trên một đơn vị sản phẩm hoàn thành. Phân loại giá thành sản phẩm +Phân loại giá thành sản phẩm theo chi phí tính vào giá thành - Giá thành sản xuất: Là giá thành chỉ bao gồm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Giá thành sản xuất lại được chia thành: o Giá thành sản xuất toàn bộ: Là giá thành bao gồm toàn bộ các CPSX như chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. o Giá thành sản xuất theo biến phí: Là giá thành chỉ bao gồm các biến phí sản xuất kể cả biến phí trực tiếp và biến phí gián tiếp. Như vậy, nếu xác định giá thành sản xuất theo biến phí thì các CPSX cố định được ghi nhận là các chi phí thời kỳ trong niên độ mà không tính vào giá thành sản xuất. - Giá thành tiêu thụ sản phẩm (giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ): Là giá thành sản xuất toàn bộ cộng các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
+Phân loại giá thành sản phẩm theo thời điểm tập hợp số liệu để xác định giá thành - Giá thành kế hoạch: Là GTSP được tính trên cơ sở CPSX kế hoạch, sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp tính trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá thành sản xuất của doanh nghiệp. - Giá thành định mức: GTSP được tính trên định mức chi phí hiện hành.
Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện truớc khi tiến hành quá 11 trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức là thước đo để xác định kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp từ đó có cơ sở đánh giá các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng. - Giá thành thực tế: Loại giá thành được xác định trên cơ sở số liệu CPSX thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể xác định được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức áp dụng các giải pháp kinh tế - kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Về thực chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất. CPSX phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn GTSP phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả những chi phí phát sinh (kỳ này hay kỳ trước chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu GTSP.
Nói cách khác, GTSP là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ. CPSX và GTSP là hai khái niệm riêng biệt, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Tuy nhiên, xét về mặt lượng thì CPSX và GTSP lại không giống nhau.
Vì: - CPSX luôn gắn với một thời kỳ nhất định, còn GTSP gắn liền với khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành nhất định. - CPSX chỉ bao gồm những chi phí phát sinh kỳ này, còn GTSP chứa đựng cả một phần của chi phí kỳ trước (chi phí sản phẩm làm dở đầu kỳ). 12 CPSX và GTSP thể hiện mối quan hệ với nhau qua công thức sau: Chi phí Chi phí Chi phí phát Tổng GTSP = SXDD đầu + - SXDD cuối sinh trong kỳ kỳ kỳ 1. PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC) 1.