MỞ ĐẦU Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào năm 1991, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, là bệnh viện chuyên khoa hạng nhất về tim mạch, có thế mạnh về phẫu thuật tim, thông tim can thiệp và điều trị nội khoa tim mạch. Viện Tim là bệnh viện đầu tiên trong ngành và trong cả nước thực hiện được phẫu thuật tim hở. Đây là một kỹ thuật cao với qui mô hơn 1.200 trường hợp mỗi năm, đáp ứng được sự chờ đợi của người bệnh mắc bệnh tim cần phải mổ trong cả nước. Viện Tim là bệnh viện đi đầu trong việc tự đào tạo và đào tạo chuyển giao kỹ thuật cao trong mổ tim cho các bệnh viện ở trong nước và nước ngoài [5].
Trong các bệnh tim mạch thì suy tim là một vấn đề y tế công cộng nổi trội đang ngày càng gia tăng và cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ảnh hưởng lên sức lao động và tử vong. Ước tính 26-38 triệu người trên thế giới mắc bệnh suy tim [40], [42], hầu hết các nghiên cứu báo cáo tỷ lệ suy tim là 1-2% dân số người trưởng thành, ở châu Á là 1,26-6,7% [40]. Suy tim gây tử vong nhiều hơn một số bệnh ung thư và nhồi máu cơ tim ở cả nam và nữ [52]. Gánh nặng kinh tế do suy tim được dự báo ngày càng tăng trong những thập kỷ tới do sự già hóa dân số thế giới [42].
Các phương pháp điều trị hiện đại đã giúp người bệnh cải thiện triệu chứng và chất lượng cuộc sống, giảm tỷ lệ nhập viện, làm chậm quá trình tiến triển của bệnh và cải thiện tỷ lệ sống còn. Năm 2014, nghiên cứu PARADIGM-HF so sánh sacubitril/valsartan với enalapril trong điều trị suy tim mạn được công bố. Kết quả nghiên cứu cho thấy sacubitril/valsartan hiệu quả giảm tử vong do tim mạch và nhập viện do suy tim so với enalapril trên người bệnh suy tim mạn phân suất tống máu giảm [35]. Thuốc sacubitril/valsartan đã được cấp phép sử dụng ở 112 nước [37].
Tháng 3 năm 2018, thuốc được cấp phép sử dụng ở Việt Nam. Tháng 11 năm 2018, thuốc được sử dụng ở Viện Tim. Trên thực tế việc lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp không chỉ dựa trên hiệu quả và độ an toàn mà còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, khả năng chi trả của người bệnh và cơ quan chi trả, nhất là đối với bệnh mãn tính. Chính vì vậy, hiệu quả kinh tế của liệu pháp.
2 mới so với liệu pháp hiện dùng ngày nay được đặc biệt quan tâm nhằm đánh giá tính khả thi trong sử dụng liệu pháp mới trên thực tế trong điều kiện ngân sách y tế eo hẹp. Nhiều nghiên cứu trên thế giới hiện nay đã chứng minh hiệu quả kinh tế của sacubitril/valsartan so với thuốc ức chế men chuyển trong điều trị suy tim mạn. Tuy nhiên, với sự khác biệt về giá trị tiền tệ, phương pháp điều trị cũng như những đặc trưng nhân chủng học riêng của mỗi quốc gia, kết quả nghiên cứu kinh tế dược ở quốc gia này không thể áp dụng cho quốc gia khác. Vì vậy đánh giá hiệu quả kinh tế của sacubitril/valsartan so với enalapril trong điều trị suy tim mạn là vô cùng cấp thiết tại Việt Nam, quốc gia đang phát triển với ngân sách dành cho y tế rất hạn hẹp.
Chính vì vậy đề tài “Phân tích chi phí - hiệu quả sacubitril/valsartan so với enalapril trong điều trị suy tim mạn phân suất tống máu giảm tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh theo quan điểm bảo hiểm y tế” được thực hiện nhằm đánh giá những tác động kinh tế của sacubitril/valsartan trong điều trị suy tim tạo cơ sở cho cơ quan quản lý y tế, chuyên gia y tế lựa chọn phác đồ điều trị tối ưu nhất cho người bệnh, từ đó đề ra các chính sách y tế phù hợp. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Phân tích chi phí - hiệu quả sacubitril/valsartan so với enalapril trong điều trị suy tim mạn phân suất tống máu giảm tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh theo quan điểm bảo hiểm y tế. Mục tiêu cụ thể: 1. Thiết lập mô hình và phân tích các thông số đầu vào của mô hình đánh giá chi phí - hiệu quả của sacubitril/valsartan so với enalapril trong điều trị suy tim mạn phân suất tống máu giảm 2.
Phân tích chi phí – hiệu quả của sacubitril/valsartan so với enalapril trong điều trị suy tim mạn phân suất tống máu giảm dựa trên mô hình thiết lập. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về suy tim 1. Khái niệm, nguyên nhân và đặc điểm dịch tễ 1.
Khái niệm Suy tim là một hội chứng bệnh lý rất thường gặp, phức tạp và là hậu quả của những tổn thương thực thể hay rối loạn chức năng của tim, bệnh về tim mạch như tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh tim bẩm sinh, rối loạn nhịp tim… dẫn đến tâm thất không đủ khả năng tiếp nhận máu hoặc tống máu [1], [9], [45]. Bình thường, tim và hệ tuần hoàn luôn có sự điều chỉnh, thích nghi để đáp ứng được nhu cầu ôxy của cơ thể trong các điều kiện hoạt động của cuộc sống. Khi tim bị suy, tim không còn đủ khả năng để cung cấp ôxy (máu) theo nhu cầu của cơ thể nữa. Vì vậy có thể định nghĩa: suy tim là tình trạng bệnh lý trong đó cung lượng tim không đủ để đáp ứng nhu cầu ôxy của cơ thể trong mọi tình huống sinh hoạt của người bệnh [1].
Biểu hiện chính của suy tim là mệt, khó thở làm hạn chế sự dung nạp của người bệnh với gắng sức và ứ dịch dẫn đến sung huyết ở phổi và/hoặc nội tạng và/hoặc phù ngoại biên. Một số người bệnh không dung nạp với gắng sức nhưng không có triệu chứng bị ứ dịch. Vì nhiều người bệnh không có dấu hiệu hoặc triệu chứng quá tải thể tích nên thuật ngữ “suy tim” được ưa dùng hơn “suy tim sung huyết” [6]. Nguyên nhân [8], [9] Tìm ra nguyên nhân suy tim rất quan trọng giúp quyết định hướng điều trị.
Nguyên nhân nền - Nguyên nhân gây suy tim tâm thu gồm: bệnh động mạch vành (nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim cục bộ), tăng tải áp lực mạn (tăng huyết áp, bệnh van tim gây tắc nghẽn), tăng tải thể tích mạn (bệnh van tim gây hở van, luồng thông trong tim trái qua phải, luồng thông ngoài tim), bệnh cơ tim dãn không liên quan với thiếu máu cục bộ (rối loạn di truyền hoặc gia đình, rối loạn do thâm nhiễm, tổn thương do thuốc hoặc nhiễm độc, bệnh chuyển hóa, virus hoặc các tác nhân gây nhiễm trùng khác), rối loạn nhịp và tần số tim (rối loạn nhịp chậm mãn tính, rối loạn nhịp nhanh mãn tính), bệnh tim do phổi (tâm phế mạn, bệnh lý mạch máu phổi), các tình trạng cung lượng cao, rối loạn chuyển. - Nguyên nhân gây suy tim tâm trương gồm bệnh động mạch vành, tăng huyết áp, hẹp van động mạch chủ, bệnh cơ tim phì đại, bệnh cơ tim hạn chế. Các nguyên nhân thúc đẩy hay yếu tố làm nặng Các nguyên nhân thúc đẩy hay yếu tố làm nặng bao gồm: không tiết chế, giảm thuốc điều trị suy tim không đúng, nhồi máu cơ tim, thiếu máu cục bộ cơ tim, rối loạn nhịp tim, nhiễm khuẩn, thiếu máu, khởi đầu sử dụng các thuốc có thể làm nặng suy tim, lạm dụng rượu, có thai, huyết áp tăng, hở van tim cấp. Đặc điểm dịch tễ Suy tim là một vấn đề tim mạch rất phổ biến trên lâm sàng hiện nay, gây gánh nặng về bệnh tật và kinh tế - xã hội.
Theo thống kê ước tính 26-38 triệu người trên thế giới mắc bệnh suy tim [27], [40], [42]. Theo cập nhật năm 2020, ở Mỹ có khoảng 6,2 triệu người bị suy tim [12], [16]. Tần suất người bệnh suy tim khoảng 1-2% trên số người trưởng thành ở các quốc gia phát triển [19] và tăng đến > 10% trong tổng số những người > 70 tuổi [15]. Đối với dân số châu Âu, tần số này là 11,8% ở người trên 60 tuổi, và 20% ở người từ 70 đến 80 tuổi [19].
Số ca mới mắc suy tim hàng năm ở Mỹ khoảng 670. Ước tính khoảng 1/5 số người trên 40 tuổi sẽ mắc suy tim [15]. Suy tim là nguyên nhân nhập viện hàng đầu của người trên 65 tuổi, với 6,5 triệu ngày nhập viện hàng năm ở Mỹ [24]. Dữ liệu từ Châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy, số lần nhập viện liên quan đến suy tim là hơn 1 triệu lần nhập viện hàng năm với 80-90% do suy tim mất bù.
Tỷ lệ tái nhập viện cũng cao [42]. Tần suất tái nhập viện do suy tim là 26,9% so với toàn bộ là 19,1% [27]. Suy tim thường có tiên lượng xấu: 5-10% người bệnh nhập viện tử vong, và thêm 15% tử vong trong vòng 3 tháng, và khoảng 50% người bệnh tử vong trong vòng 5 năm từ lần nhập viện đầu tiên, chịu trách nhiệm hơn một phần ba tử vong ở Mỹ từ nguyên nhân tim mạch [16]. Tử vong do suy tim tính trên tổng số tử vong người bệnh suy tim tăng từ 12% ở NYHA độ II, lên 26% ở NYHA độ III, lên 56% ở NYHA độ IV [29].
Suy tim gây tử vong nhiều hơn một số bệnh ung thư và nhồi máu cơ tim ở cả nam và nữ [52]. Nhập viện làm tăng nguy cơ tử vong cho người. 5 bệnh suy tim [11]. Người bệnh suy tim có khả năng sống sót kém [52], giảm đáng kể chất lượng sống [25].
Gánh nặng kinh tế do suy tim được dự báo ngày càng tăng trong những thập kỷ tới do sự già hóa dân số thế giới [42]. Ước tính 1,26 - 6,7% dân số châu Á bị suy tim [19], [40]. Do nguyên nhân tử vong, bệnh tật dịch chuyển từ bệnh lây nhiễm, thiếu dinh dưỡng sang các bệnh do lối sống, số người suy tim dự kiến ngày càng tăng ở châu Á [43]. Riêng khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ suy tim cao hơn so với các khu vực khác trên thế giới do đây là khu vực đa dạng về văn hóa xã hội và là khu vực có tốc độ phát triển dân số nhanh, lên tới hơn 600 triệu người [33], [27].
Theo các số liệu nghiên cứu còn hạn chế, người Đông Nam Á bị suy tim cấp ở tuổi trẻ hơn (54 tuổi) so với người Mỹ (75 tuổi) nhưng có biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng hơn, tỷ lệ thở máy cao hơn, nhập viện dài hơn (6 so với 4,2 ngày), tỷ lệ tử vong nhập viện cao hơn (4,8 so với 3,0%) [33]. Ở Việt Nam, tuy chưa có thống kê chính thức nhưng ước tính có khoảng 320.