Chương 1 - Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu: Nêu lên khung lý 4 thuyết về thuế GTGT, quản lý thuế GTGT, các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế GTGT, các nghiên cứu liên quan. Chương 2 - Thực trạng thu thuế GTGT tại địa bàn huyện Mỹ Đức: Nêu lên các kết quả thu thuế GTGT đã đạt được, tình hình quản lý thuế GTGT tại địa bàn. Chương 3 - Phương pháp và kết quả nghiên cứu: Tiến hành đề xuất mô hình nghiên cứu, mô tả và kiểm định mô hình nghiên cứu đã mô tả. Từ đó đưa ra kết quả kiểm định và phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả thu thuế GTGT trên địa bàn huyện.
Chương 4 - Giải pháp và kiến nghị: Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế GTGT trên địa bàn huyện Mỹ Đức tác giả đưa ra đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT trên địa bàn. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. Các khoản đóng góp bắt buộc được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và dựa trên các cơ sở xác định mức độ và phương pháp đóng góp khác nhau. Mỗi khoản đóng góp bắt buộc có tác dụng riêng đối với sự điều tiết nền kinh tế của nhà nước, hình thành nên nhiều hình thức thuế (sắc thuế) khác nhau, từ đó tạo thành chính sách thuế của một quốc gia.
Hệ thống thuế là tổng hợp các sắc thuế khác nhau với cơ chế hoạt động, đối tượng điều chỉnh, phương pháp đánh thuế, mức độ điều tiết và phương pháp thu nộp khác nhau. Các sắc thuế có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước. Như vậy, một hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế. Mỗi sắc thuế được ban hành dưới hình thức văn bản pháp quy của nhà nước như: Luật, Pháp lệnh… về thuế, thể hiện đường lối và chính sách của Nhà nước trong việc động viên thu nhập từ nền kinh tế quốc dân vào Ngân sách Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển nhất định.
Hệ thống chính sách thuế hiện hành của Việt Nam bao gồm các sắc thuế chính: Thuế giá trị gia tăng; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế tiêu thụ đặc biệt; 2 Thuế xuất khẩu - nhập khẩu; Thuế tài nguyên; Thuế bảo vệ môi trường; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Ngoài các sắc thuế trên, Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy quy định một số khoản thu khác như phí, lệ phí, lệ phí trước bạ, thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất … Tất cả các sắc thuế, suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Tuy nhiên, tùy thuộc vào phương thức đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập mà người ta chia hệ thống thuế thành hai loại: thuế trực thu và thuế gián thu.1 Khái niệm “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008).2 Nội dung của thuế giá trị gia tăng 1.1 Ngƣời nộp thuế Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 quy định như sau: “Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu) bao gồm: - Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác. 3 - Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác. - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam.
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu. - Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) - Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được thành lập để hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.” Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.2 Giá tính thuế Giá tính thuế được quy định như sau: “ Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuế bảo vệ môi trường (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về 4 giá tính thuế hàng nhập khẩu.
Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này. Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho thời hạn thuê thì giá tính thuế là số tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hóa đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm.
Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế giá trị gia tăng. Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị. Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước.” “ Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa và dịch vụ hưởng hoa hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế giá trị gia tăng.
Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau: Giá chưa có thuế Giá thanh toán giá trị gia tăng = [1 + thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)] Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ ở đây bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Giá tính thuế được 5 xác định bằng đồng Việt Nam. Trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.3 Thuế suất Có 3 mức thuế suất thuế GTGT: 0%, 5%, 10% Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 quy định như sau: - “ Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Luật khi xuất khẩu trừ các trường hợp sau đây: Chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; Dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; Dịch vụ cấp tín dụng; Chuyển nhượng vốn; Dịch vụ tài chính phái sinh; Dịch vụ bưu chính, viễn thông; Một số Sản phẩm xuất khẩu theo quy định tại luật thuế GTGT. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính phủ.