Đặt vấn đề Trong bối cảnh “Quy hoạch Điện VIII” vừa được phê duyệt tại Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 [2], đặt ra nhu cầu cấp thiết phát triển mạnh các dự án xây dựng nguồn điện và năng lượng tái tạo. Đây là cơ hội để ngành xây dựng điện phục hồi sau khoảng thời gian thị trường bị bão hòa, đặc biệt là lĩnh vực xây dựng lưới điện truyền tải để đảm bảo kết nối các nguồn điện mới, nguồn điện năng lượng tái tạo với lưới điện chính cũng như mở rộng kết nối mạng lưới điện với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó cũng đặt ra những thách thức nhất định đối với các công ty xây dựng điện và tiến độ là một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu cần đáp ứng để đảm bảo uy tín, lợi nhuận cũng như năng lực cạnh tranh trong thị trường ngày càng đa dạng. Bản chất của ngành xây dựng là sự phức tạp và không chắc chắn vì các công ty khác nhau tham gia từ giai đoạn khởi động đến giai đoạn vận hành.
Trong đó, các sai sót trong thiết kế là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc phải ĐCTK hoặc làm lại thiết kế, gây trì hoãn tiến độ và vượt quá ngân sách trong các dự án thiết kế và xây dựng [3]. Trong quá trình thiết kế, thường xảy ra nhiều thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau (ví dụ: thay đổi thông số kỹ thuật hoặc yêu cầu mới từ khách hàng). Việc quản lý những thay đổi này trở nên quan trọng vì chúng có thể ảnh hưởng đến các bộ môn khác nhau. Ví dụ, một thay đổi về thông số dây dẫn do kỹ sư thiết kế điện đưa ra có thể ảnh hưởng đến thiết kế cột móng của kỹ sư xây dựng.Tuy nhiên, việc truyền đạt thay đổi một cách thủ công giữa các bên thường tốn thời gian, tốn kém và không hiệu quả.
Trong một số trường hợp, nhà thiết kế có thể quên thông báo thay đổi hoặc sai lầm khi nhận định rằng các bộ môn khác không bị ảnh hưởng. Kết quả là các tài liệu thiết kế không thống nhất, có xung đột, mâu thuẫn và không khớp. Hậu quả của hầu hết các vấn đề phối hợp thiết kế không được phát hiện cho đến khi xây dựng. Một số trong những hệ lụy này bao gồm các đơn đặt hàng thay đổi và thỏa thuận hợp đồng, chậm tiến độ, dẫn đến vượt chi phí và thường là sự không hài lòng của khách hàng [4].
Một nghiên cứu của Burati và các cộng sự [5] chỉ ra rằng những sai lệch trong dự án chiếm trung bình 12,4% tổng chi phí dự án, và sai lệch về thiết kế chiếm khoảng SVTH : Nguyễn Công Bằng MSHV : 2070531 LUẬN VĂN THẠC SĨ 6 78% tổng số sai lệch, 79% tổng chi phí sai lệch và 9,5% tổng chi phí dự án. Do đó, việc đánh giá các nguyên nhân ĐCTK và tác động của chúng đến tiến độ dự án là cơ sở để chủ đầu tư (CĐT) cải thiện mô hình QLDA, QLTĐ, các đơn vị tư vấn thiết kế (TVTK) nâng cao chất lượng quản lý cũng như chất lượng hồ sơ thiết kế (HSTK) đảm bảo tiến độ, chi phí và chất lượng dự án. Vấn đề xác định các nguyên nhân ĐCTK tác động đến hiệu quả QLTĐ dự án xây dựng đường dây TTĐ sẽ là vấn đề được nguyên cứu trong đề tài này.3 Mục tiêu nghiên cứu Từ các vấn đề nêu trên, luận văn hướng đến việc giải quyết các vấn đề sau: Xác định các nguyên nhân ĐCTK gây chậm trễ tiến độ các dự án xây dựng đường dây TTĐ. Phân loại và xếp hạng các nguyên nhân, kết hợp xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính phân tích, đánh giá sự tương quan và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả QLTĐ dự án xây dựng đường dây TTĐ.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế, hạn chế các thay đổi làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án.4 Phạm vi đề tài Không gian và đối tượng nghiên cứu: các nguyên nhân gây ĐCTK, các dự án xây dựng đường dây TTĐ. Thời gian thực hiện: 6 tháng. Đối tượng khảo sát: những cá nhân có kinh nghiệm thực hiện các dự án xây dựng điện: CĐT, TVTK, TVGS, NTTC.5 Ý nghĩa học thuật và thực tiễn Về mặt học thuật, nghiên cứu xác định các nhân tố gây ra sự thay đổi thiết kế trong các dự án xây dựng đường dây TTĐ và ảnh hướng của chúng đến tiến độ dự án. Xây dựng được mô hình đánh giá, phân tích sự tương quan và tầm quan trọng của các nhân tố, từ đó đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề.
SVTH : Nguyễn Công Bằng MSHV : 2070531 LUẬN VĂN THẠC SĨ 7 Về mặt thực tiễn, nghiên cứu góp phần giúp các nhà quản lý của CĐT, TVTK có cái nhìn rõ hơn về các nguyên nhân gây ra sự thay đổi trong thiết kế, sự xung đột về thiết kế giữa các bộ phận, đơn vị khác nhau trong quá trình thực hiện dự án. Đề xuất các giải pháp hạn chế hoặc kiểm soát các thay đổi, điều hòa các xung đột gây ra sự sai khác trong quá trình phối hợp giữa các bên, qua đó, góp phần kiểm soát tiến độ chung của dự án. SVTH : Nguyễn Công Bằng MSHV : 2070531 LUẬN VĂN THẠC SĨ 8 CHƯƠNG 2. Khái niệm về dự án Dự án là một quá trình diễn ra một lần duy nhất, với tập hợp các công việc được phối hợp và kiểm soát, có ngày khởi đầu và hoàn tất rõ ràng, được tiến hành để đạt được các mục tiêu cụ thể, bao gồm về những hạn chế cả về thời gian, lẫn ngân sách và nguồn lực [6].
Dự án đầu tư xây dựng là một tập hợp các phương án liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn để thực hiện các hoạt động làm mới, sửa chữa hoặc cải tạo công trình xây dựng nhằm duy trì, phát triển và tăng chất lượng của công trình hoặc sản phẩm, trong một khoảng thời gian và mức chi phí cụ thể [7]. Theo Albert [6], một dự án có điểm khởi đầu và điểm hoàn thành xác định và phải đám ứng một số mục tiêu nhất định. Ba tiêu chí cơ bản: Dự án phải hoàn tất đúng hạn. Dự án phải được hoàn tất trong mức kinh phí dự kiến.
Dự án phải đảm bảo chỉ tiêu về chất lượng theo quy định. Cũng theo Albert [6], định nghĩa về QLDA là việc lập kế hoạch, theo dõi và kiểm soát mọi khía cạnh của dự án xây dựng và tạo động lực cho tất cả những người tham gia, nhằm đạt được mục tiêu của dự án trong phạm vi thời gian, chi phí và chất lượng đã thỏa thuận. Đặc điểm của dự án xây dựng đường dây truyền tải điện Dự án xây dựng đường dây truyền tải: là dự án xây dựng các tuyến đường dây TTĐ cao áp thông qua xây dựng các tháp thép để cố định dây dẫn và giữ khoảng cách từ dây dẫn điện đến mặt đất đảm bảo một khoảng an toàn, dùng để truyền tải lượng công suất lớn từ các nguồn điện đến các hệ thống phân phối. Theo Wuller et al.
[8], dựa trên chức năng, đường dây TTĐ được định nghĩa là một hệ thống dùng để cung cấp năng lượng điện từ nhà máy điện đến trạm biến áp cao SVTH : Nguyễn Công Bằng MSHV : 2070531 LUẬN VĂN THẠC SĨ 9 áp hoặc siêu cao áp thông qua dây dẫn một cách an toàn và hiệu quả. Công trình đường dây mang tính chất tuyến tính, thường trải dài qua nhiều địa phương, đa dạng về địa hình, sự thay đổi phức tạp về địa chất, đồng thời phải đảm bảo tính phù hợp về giao thông, quy hoạch sử dụng đất và các ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Khái niệm về tiến độ Tiến độ dự án xây dựng được đo lường bằng thời gian thực tế hoàn thành từng hạng mục, công việc của dự án, từ khi có chủ trương đầu tư đến khi toàn bộ công trình được hoàn thành. Theo Xu et al.
[9], QLTĐ dự án đề cập đến việc QLTĐ của từng giai đoạn và thời hạn hoàn thành cuối cùng của dự án trong suốt quá trình thực hiện dự án. QLTĐ dự án là một khía cạnh quan trọng của QLDA, và nó là một trong những tiêu chí quan trọng để đảm bảo rằng dự án được hoàn thành đúng lịch trình hoặc sắp xếp hợp lý việc cung cấp tài nguyên và tiết kiệm chi phí dự án. Theo Saleh [10], tất cả các bên tham gia vào bất kỳ dự án nào đều cần lập tiến độ dự án để: Tính ngày hoàn thành dự án. Tính toán thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc một hoạt động cụ thể.
Hợp tác giữa các bên liên quan, các bộ môn, các nhà thầu, đồng thời chỉ ra và giải quyết các xung đột. Dự đoán và tính toán dòng tiền. Nâng cao, thúc đẩy hiệu suất công việc. Phục vụ như một công cụ QLDA hiệu quả.
Đánh giá tác động của những thay đổi Chứng minh khiếu nại, giải trình về sự chậm trễ. Các khái niệm về điều chỉnh, thay đổi thiết kế Tính chất không ổn định và phức tạp của xây dựng đã làm tăng mức độ không SVTH : Nguyễn Công Bằng MSHV : 2070531 LUẬN VĂN THẠC SĨ 10 chắc chắn, không rõ ràng liên quan đến các giai đoạn lập kế hoạch và tiến hành thực hiện. Không giống như sản xuất, xây dựng thường tách biệt quy hoạch và thiết kế khỏi quy trình xây dựng dẫn đến một số sự thay đổi liên quan đến vấn đề phạm vi và thiết kế trong quá trình thực hiện xây dựng. Sự tách biệt giữa thiết kế và xây dựng là nguyên nhân gây ra những vấn đề nghiêm trọng, trong đó các thiết kế được xuất bản mà không quan tâm đến khả năng xây dựng hoặc hiệu quả kinh tế mang lại, do đó ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất của dự án.
Ảnh hưởng của những thay đổi này đã dẫn đến các vấn đề vượt chi phí, chậm trễ lịch trình và giảm năng suất. Sự kết hợp của những đề cập ở trên có ảnh hưởng bất lợi đến chi phí tổng thể của dự án [11]. Theo Burati et al. [5], thay đổi về thiết kế là một hoạt động bổ sung, sửa đổi hoặc loại bỏ các yêu cầu, giải pháp đã được thống nhất trước đó.
Những thay đổi này có thể ảnh hưởng đến các yêu cầu về cơ sở thiết kế, phạm vi hợp đồng và yêu cầu kỹ thuật đã được phê duyệt.