MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế nước ta đã và đang bước vào giai đoạn hội nhập với nền kinh tế quốc tế, sự chuyển biến về KT - XH đang phát huy và có nhiều thành tựu to lớn, đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, tạo điều kiện cho giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Hội nghị Trung ương thứ VI đã khẳng định: “Sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài làm cơ sở để ổn định và phát triển KT - XH, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Sự phát triển của kinh tế nông thôn đóng góp một vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, và quá trình phát triển này đã và đang có sự hỗ trợ không nhỏ từ phía các tổ chức tín dụng.Mặc dù như vậy, nhưng hoạt động của mạng lưới tín dụng tại các vùng nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế.
Nhu cầu tín dụng của người dân xuất phát từ nhiều hoạt động khác nhau, và việc đáp ứng được nhu cầu đó cũng là một bước phát triển của các tổ chức tín dụng. Hiện nay, mạng lưới tín dụng đã có mặt ở khắp các vùng nông thôn, miền núi. Hoạt động của các tổ chức tín dụng này đã và đang phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều người dân ở khu vực nông thôn vẫn ít hoặc chưa thể tiếp cận được các hoạt động của các tổ chức tín dụng này [1].
Ngũ Kiên là một xã ở vùng đồng bằng sông Hồng thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là một xã có hoạt động sản xuất,kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh nghề phụ. Hoạt động kinh tế của xã rất đa dạng và ngày càng phát triển, cho nên các hộ gia đình ở đây có nhiều nguồn thu nhập và chi tiêu khác nhau.Để h 2 duy trì được hoạt động sản xuất của mình thì các hộ gia đình cần có một lượng vốn rất lớn (bao gồm cả các hoạt động phi nông nghiệp cũng như hoạt động nông nghiệp). Mặc dù hiện tại trên địa bàn xã đã có mặt nhiều tổ chức tín dụng như NHNo&PTNT, NHCSXH, các tổ chức tín dụng khác…nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của người dân, các hoạt động tín dụng đang gặp nhiều bất cập cả từ các tổ chức và từ phía người dân.
Xuất phát từ thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự nhất chí của khoa kinh tế & phát triển nông thôn và sự góp ý của thầy giáo Ts. Bùi Đình Hòa cùng với lòng nhiệt huyết của mình, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích luồng thu nhập, chi tiêu và nhu cầu vay vốn của các hộ nống dân trên địa bàn xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Thông qua quá trình thực tập tại địa phương, nghiên cứu và đánh giá thu nhập, chi tiêu và nhu cầu vay vốn trên địa bàn xã, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân trên đại bàn xã Ngũ Kiên.
Mục tiêu cụ thể Phân tích được các nguồn thu nhập, các khoản chi tiêu của các hộ gia đình trên địa bàn xã. Đánh giá nhu cầu vay vốn của các hộ gia đình trên địa bàn xã. Đưa ra các giải pháp tăng cường tiếp cận vốn của các hộ.3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1.1 Ý nghĩa về mặt học tập Rèn luyện các kỹ năng thu thập, xử lý số liệu, viết báo cáo. h 3 Đề tài là cơ hội cho tôi học tập, đi sâu vào thực tế, tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân nhằm phục vụ cho công tác sau này.Ngoài ra đề tài còn là cơ hội cho tôi được nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống của người dân trên địa bàn mình sinh sống.
Bổ sung thêm tài liệu cho các ban ngành liên quan ở địa phương, khoa Kinh tế & PTNT, cho nhà trường và cho sinh viên ở các khóa sau.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các hộ gia đình nắm bắt được tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình mình, từ đó đưa ra được phương án sử dụng vốn một cách phù hợp và có hiệu quả. Đồng thời cũng là cơ sở để các ban ngành liên quan có thêm những căn cứ để đưa ra các giải pháp hợp lý trong việc hỗ trợ vốn vay cho các hộ nông dân. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.1 Một số khái niệm về thu nhập và chi tiêu 2.1 Thu nhập Thu nhập hộ gia đình là tổng các khoản thu bằng tiền hoặc hiện vật do lao động của các thành viên trong gia đình tạo ra trong một thời gian nhất định, bao gồm tiền công, tiền lương, thu từ sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp và thu khác.Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình là: trình độ học vấn, giới tính, tuổi tác, số lao động, thời gian làm việc và quy mô vốn đầu tư [3].
Vai trò của thu nhập: mức sống dân cư cao hay thấp, sự phân hóa giàu nghèo,… phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trong nhất là mức thu nhập của từng hộ gia đình, thu nhập quyết định quy mô và cơ cấu tiêu dùng của hộ gia đình [3].2 Chi tiêu Chi tiêu trong gia đình là các chi phí để đáp ứng nhu cầu vật chất và văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình từ nguồn thu nhập của họ. Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ gia đình: giá cả bản thân hàng hóa và các hàng hóa liên quan, thu nhập, thị hiếu, các kỳ vọng [4].2 Khái niệm về vốn Do vai trò quan trọng của vốn trong sự tồn tại và phát triển một doanh nghiệp nói riêng và của một nền kinh tế nói chung, từ trước tới nay, không chỉ có các chủ doanh nghiệp, những nhà quản lý quan tâm, trăn trở về nguồn huy động và cách thức sử dụng vốn mà ngay cả các nhà kinh tế, nhà lý luận đã tốn h 5 không ít giấy mực và tâm trí để đưa ra một định nghĩa, một nghiên cứu hoàn chỉnh nhất về vốn của doanh nghiệp. Dưới góc độ các yếu tố sản xuất, Mark đã khái quát hoá vốn thành phạm trù cơ bản. Theo Mark, tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất.
Định nghĩa của Mark có tầm khái quát lớn. Tuy nhiên, do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư. Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển” đã thừa kế quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là: đất đai, lao động và vốn. Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết bị, vật tư, đất đai, giá trị nhà xưởng.
Trong quan niệm về vốn của mình, Sammelson không đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong cuốn kinh tế học của D. Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp.
Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Sammelson. Trong hai định nghĩa trên, các tác giả đã thống nhất nhau ở điểm chung cơ bản: vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong cách định nghĩa của mình, các tác giả đã đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ.
Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị của môt bộ h 6 phận nguồn lực mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Vốn biểu hiện mặt giá trị, nghĩa là vốn phải đại diện cho một loại giá trị hàng hoá, dịch vụ nhất định, một loại giá trị tài sản nhất định. Nó là kết tinh của giá trị chứ không phải là đồng tiền in ra một cách vô ý thức rồi bỏ vào đầu tư. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hoá.
Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì người sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá của vốn (hay còn gọi là lãi suất) là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách dời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ các quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng. Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng.
Song hiểu một cách khái quát, ta có thể coi: Vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích luỹ được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp [2].