Tổng quan nghiên cứu

Phú Quốc là trung tâm du lịch biển đảo trọng điểm với tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa vượt bậc. Năm 2016, huyện đảo đón khoảng 1,42 triệu lượt du khách, mang lại tổng doanh thu ngành dịch vụ đạt 900 tỷ đồng. Tuy nhiên, sự bùng nổ du lịch kéo theo lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lên tới 180 tấn mỗi ngày trên toàn huyện. Riêng tại địa bàn thị trấn Dương Đông, khối lượng rác thải sinh hoạt thu gom và xử lý đạt 31.126 tấn trong năm 2016, trong đó khu vực bãi biển Dinh Cậu và lưu vực sông Dương Đông tiếp nhận hơn 10 tấn rác mỗi ngày. Áp lực ô nhiễm môi trường biển trở nên nghiêm trọng do hoạt động xả thải trực tiếp từ các cơ sở dịch vụ ăn uống, giải khát ven bờ. Vấn đề cốt lõi đặt ra là hoạt động quản lý rác của các hộ kinh doanh nhỏ lẻ vẫn mang tính tự phát, thiếu trang thiết bị chuẩn hóa và chưa có sự kiểm soát chặt chẽ.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt của 125 hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ tại bãi biển thị trấn Dương Đông, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý chất thải. Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu tập trung tại khu phố 2 và khu phố 7 thuộc thị trấn Dương Đông từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy, làm cơ sở khoa học để chính quyền địa phương nâng cao tỷ lệ thực hành vệ sinh môi trường đạt chuẩn từ mức 21,6% hiện tại lên trên 60%, góp phần bảo vệ hệ sinh thái biển đảo bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình Quản lý tổng hợp chất thải rắn (ISWM) kết hợp cùng khung lý thuyết Đánh giá Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) trong lĩnh vực y tế công cộng. Nguyên lý giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế (3R) được tích hợp để phân tích chu trình vận hành rác thải từ nguồn phát sinh đến điểm xử lý cuối cùng.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm: Rác thải sinh hoạt là chất thải phát sinh từ các hoạt động sống, kinh doanh dịch vụ ăn uống của con người; Thu gom và lưu giữ chất thải rắn là hoạt động tập hợp, đóng gói và chứa đựng tạm thời rác thải đúng quy chuẩn kỹ thuật; Phân loại rác tại nguồn là quá trình phân tách rác hữu cơ, rác tái chế và rác vô cơ ngay tại cơ sở phát sinh; Hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ là các cơ sở cá thể phục vụ giải khát, ăn uống nhanh, tạp hóa ven bãi biển với quy mô lao động từ 1 đến 3 người. Khung pháp lý tham chiếu xuyên suốt gồm Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, cùng Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng, nghiên cứu khảo sát toàn bộ 125 cơ sở kinh doanh du lịch quy mô nhỏ cố định tại bãi biển thuộc khu phố 2 và khu phố 7 thị trấn Dương Đông có tên trong danh sách quản lý y tế địa phương. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ thực trạng của toàn bộ quần thể đích mà không bị sai số chọn mẫu. Tại mỗi cơ sở, điều tra viên phỏng vấn 1 nhân viên hoặc chủ cơ sở trực tiếp quét dọn, thu gom rác.

Về cỡ mẫu định tính, nghiên cứu thực hiện 7 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 1 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Dương Đông, 1 Phó Giám đốc Ban quản lý Công trình công cộng huyện Phú Quốc và 5 chủ hộ kinh doanh ven biển.

Công cụ thu thập dữ liệu gồm bộ câu hỏi cấu trúc đánh giá 13 biến kiến thức (thang điểm tối đa 27 điểm, kiến thức tốt khi đạt từ 17 điểm trở lên) và 9 biến thực hành (thang điểm tối đa 11 điểm, thực hành đạt khi đạt từ 6 điểm trở lên), kết hợp bảng kiểm quan sát hiện trường gồm 10 tiêu chí vệ sinh. Số liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 thông qua thống kê mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm. Dữ liệu định tính được gỡ băng ghi âm, mã hóa và phân tích theo chủ đề nhằm làm rõ nguyên nhân của các hạn chế trong quản lý rác thải.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân khẩu học trên 125 đối tượng cho thấy nữ giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 74,4% (93 người), nam giới chiếm 25,6% (32 người). Độ tuổi lao động tập trung chủ yếu từ 31 đến 50 tuổi chiếm 56,0%, nhóm 18 đến 30 tuổi chiếm 27,2% và trên 50 tuổi chiếm 16,8%. Trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên chiếm 40,8%, trung học cơ sở chiếm 39,2% và tiểu học chiếm 20,0%. Loại hình kinh doanh dịch vụ ăn uống và giải khát chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,2%, tiếp theo là bán nước giải khát 28,0%, bán tạp hóa 24,0% và các dịch vụ thức ăn nhanh khác chiếm 12,8%.

Về kiến thức, chỉ có 36,8% người được khảo sát đạt mức kiến thức tốt, trong khi 63,2% thuộc nhóm kiến thức chưa tốt. Dù 79,2% nhận biết được tác hại chung của rác thải (77,9% nhận diện mùi hôi thối, 75,8% nhận thức nguy cơ ô nhiễm môi trường), nhưng chỉ có 30,3% hiểu rác là nguồn lây truyền dịch bệnh và 17,2% biết rác tạo điều kiện cho côn trùng phát triển. Đáng chú ý, 63,2% đối tượng nhận thức được sự cần thiết của việc phân loại rác, 82,3% nhận ra lợi ích tái chế, nhưng chỉ 49,6% biết chính xác địa điểm phân loại đúng là ngay tại nguồn phát thải.

Về thực hành, tỷ lệ hộ kinh doanh đạt chuẩn thực hành vệ sinh chỉ đạt 21,6%, có tới 78,4% chưa đạt. Dù 84,8% cơ sở có trang bị thùng chứa rác, nhưng có đến 59,4% số thùng rác không hợp vệ sinh do thiếu nắp đậy hoặc hư hỏng. Tỷ lệ cơ sở thực hiện phân loại rác tại nguồn chỉ đạt 17,6%, còn lại 82,4% xả chung tất cả các loại rác. Tình trạng thùng rác quá tải khiến rác rơi vãi ra môi trường xung quanh chiếm 25,5%.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh sự chênh lệch lớn giữa nhận thức lý thuyết và thực hành thực tế. Dù tỷ lệ người nhận thức được sự cần thiết phải phân loại rác đạt 63,2%, nhưng tỷ lệ thực hành phân loại thực tế chỉ đạt 17,6%. Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ sự thiếu hụt hạ tầng đồng bộ. Các hộ kinh doanh chưa được trang bị thùng rác phân loại 2 ngăn chuyên dụng và dịch vụ thu gom của Ban quản lý Công trình công cộng vẫn vận chuyển rác hỗn hợp sau thu gom.

Phân tích định tính chỉ ra công tác truyền thông, giáo dục môi trường tại địa phương còn mờ nhạt. Đại đa số chủ hộ cho biết chỉ tiếp xúc với nhân viên môi trường khi đóng phí rác hàng tháng mà không nhận được hướng dẫn kỹ thuật. Cơ chế kiểm tra, giám sát và áp dụng chế tài theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP gần như chưa được triển khai tại khu vực bãi biển. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ giữa nhận thức và thực hành, cùng bảng ma trận đối chiếu giữa trình độ học vấn với mức độ tuân thủ quy chuẩn thu gom rác.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Chuẩn hóa trang thiết bị thu gom: Ban quản lý Công trình công cộng huyện Phú Quốc cần phân bổ đồng bộ hệ thống thùng rác 2 ngăn có nắp đậy kín tại 100% cơ sở kinh doanh ven biển, tăng tần suất thu gom lên 2 lần mỗi ngày nhằm giảm tỷ lệ thùng rác quá tải từ 25,5% xuống dưới 5% trong vòng 6 tháng.
  • Tổ chức chương trình tập huấn định kỳ: Trung tâm Y tế huyện Phú Quốc chủ trì phối hợp Ủy ban nhân dân thị trấn Dương Đông triển khai các khóa đào tạo kỹ năng phân loại rác tại nguồn cho 125 chủ hộ và nhân viên, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ kiến thức tốt từ 36,8% lên trên 75% trong lộ trình 12 tháng.
  • Tăng cường kiểm tra liên ngành và chế tài: Ủy ban nhân dân thị trấn Dương Đông thành lập tổ công tác môi trường liên ngành, thực hiện kiểm tra định kỳ 2 lần mỗi tháng và áp dụng nghiêm ngặt chế tài xử phạt theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP đối với các hành vi xả rác bừa bãi, phấn đấu đạt 100% cơ sở ký cam kết bảo vệ môi trường bãi biển.
  • Xây dựng mạng lưới thu gom và tái chế rác thải: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Quốc phối hợp với các doanh nghiệp tái chế thiết lập chuỗi thu mua phế liệu định kỳ tại bãi biển, giúp chuyển đổi ít nhất 40% lượng rác thải nhựa và chai lọ thủy tinh thành nguồn tài nguyên tái chế trong vòng 1 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cung cấp bằng chứng thực địa cho Ủy ban nhân dân các huyện đảo, Ban quản lý công trình công cộng và cơ quan tài nguyên môi trường trong việc hoạch định chính sách thu gom, tối ưu hóa nguồn lực và kiểm soát ô nhiễm rác thải du lịch ven biển dựa trên dữ liệu từ 125 cơ sở thực chứng.
  • Các nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Khoa học môi trường: Đóng vai trò tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, cung cấp thang đo KAP chuẩn hóa với 27 điểm kiến thức và 11 điểm thực hành cho các nghiên cứu môi trường biển đảo.
  • Chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ và các hiệp hội du lịch: Hướng dẫn các tiêu chuẩn thực hành thu gom, phân loại rác hợp vệ sinh, giúp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và xây dựng hình ảnh điểm đến an toàn cho du khách.
  • Các tổ chức phi chính phủ và dự án môi trường biển: Làm cơ sở dữ liệu nền tảng để thiết kế các can thiệp cộng đồng, dự án giảm thiểu rác thải nhựa đại dương và chương trình bảo tồn sinh thái biển tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ thực hành phân loại rác của các hộ kinh doanh chỉ đạt 21,6%? Thực trạng này xuất phát từ việc thiếu đồng bộ giữa nhận thức và điều kiện hạ tầng kỹ thuật. Mặc dù 63,2% người dân biết cần phân loại, nhưng có đến 59,4% thùng chứa không đạt chuẩn và địa phương thiếu phương tiện vận chuyển riêng biệt cho từng loại rác, dẫn đến tâm lý xả chung toàn bộ rác thải vào một thùng.

Nhận thức của người lao động về tác hại sức khỏe của rác thải có điểm gì đáng lưu ý? Khảo sát chỉ ra khoảng trống lớn khi chỉ có 30,3% nhân viên nhận biết rác là nguồn gây bệnh và 17,2% biết rác là nơi côn trùng truyền bệnh sinh sôi. Đa số chỉ nhận thức rác gây mùi hôi (77,9%) và ô nhiễm chung (75,8%), dẫn đến tâm lý chủ quan trong bảo hộ lao động khi thu dọn.

Quy định pháp lý nào điều chỉnh trực tiếp hoạt động quản lý rác tại hộ kinh doanh nhỏ? Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định chi tiết trách nhiệm lưu giữ, phân loại chất thải rắn sinh hoạt của tổ chức, cá nhân tại nguồn phát sinh. Đồng thời, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định các mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vứt, thải rác sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu du lịch, bãi tắm.

Tần suất thu gom rác bao nhiêu lần mỗi ngày là phù hợp tại bãi biển Dương Đông? Kết quả nghiên cứu cho thấy 86,4% đối tượng khảo sát đồng thuận tần suất thu gom 2 lần mỗi ngày là tối ưu. Tần suất này giúp giải tỏa kịp thời lượng rác phát sinh từ hoạt động ăn uống cao điểm, ngăn chặn tình trạng 25,5% thùng rác bị quá tải và bốc mùi hôi thối ra bãi tắm.

Rào cản lớn nhất từ phía quản lý công trình công cộng tại địa bàn nghiên cứu là gì? Rào cản chính là tình trạng quá tải hạ tầng xử lý khi toàn huyện Phú Quốc phát sinh 180 tấn rác mỗi ngày. Đội ngũ nhân lực và phương tiện chuyên dụng của Ban quản lý Công trình công cộng chưa thể bao phủ triệt để các ngõ ngách bãi biển, thiếu trang thiết bị vận chuyển rác phân loại riêng biệt.

Kết luận

  • Tỷ lệ lao động nữ chiếm 74,4% trong các hộ kinh doanh nhỏ ven biển Dương Đông, chủ yếu ở độ tuổi 31 đến 50 với 56,0%.
  • Kiến thức tốt về quản lý rác thải chỉ đạt 36,8%, tồn tại khoảng trống lớn trong nhận thức về nguy cơ lây truyền bệnh tật từ rác thải (chỉ 30,3% nhận biết).
  • Tỷ lệ thực hành quản lý rác đạt chuẩn rất thấp với 21,6%, trong đó tỷ lệ phân loại rác tại nguồn chỉ dừng ở mức 17,6% dù 84,8% cơ sở có trang bị thùng rác.
  • Thiếu hụt hạ tầng thùng rác hợp chuẩn (59,4% không đạt) và vắng bóng công tác kiểm tra, xử phạt theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP là những rào cản cốt lõi.
  • Đóng góp chính của luận văn là phác thảo bức tranh thực chứng toàn diện về mô hình KAP trong quản lý rác thải du lịch ven biển, cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng cho 125 cơ sở kinh doanh tại đảo Phú Quốc.

Để bảo vệ môi trường biển đảo Phú Quốc trước áp lực 180 tấn rác phát sinh mỗi ngày, các cơ quan quản lý và cộng đồng kinh doanh cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp can thiệp ngay trong quý tới. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn để khai thác chi tiết bộ công cụ đánh giá và các mô hình giải pháp ứng dụng thực tiễn.