Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm về rác 1. Một số khái niệm chung Rác thải sinh hoạt: là chất thải có liên quan đến các hoạt động sống của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại[25]. Thu gom chất thải rắn: Là những tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. Quản lý chất thải rắn: Bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người. Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn.
Hộ kinh doanh quy mô nhỏ (cá thể): Là hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Phân loại rác thải. Các loại chất thải rắn thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách như vị trí hình thành (người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, 5 ngoài nhà, trên đường phố, chợ.), theo thành phần hóa học và vật lý ( bao gồm các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da , giẻ vụn, cao su, chất dẻo…), hoặc theo tính chất rác thải… Hiện nay, phân loại chất thải rắn thường dựa vào 2 tiêu chí sau[8], [2]. * Phân loại theo nguồn gốc phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) Chất thải rắn công nghiệp Chất thải xây dựng Chất thải nông nghiệp * Phân loại theo mức độ nguy hại: Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng , độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan.
có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe người , động vật và cây cỏ. Nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp[5]. Chất thải không thông thường (non risk waste): là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần. Tác hại của rác thải.
Tác hại của rác thải đối với môi trường Hiện nay do khối lượng rác thải phát sinh với một lượng quá lớn, ở các địa phương công tác thu gom xử lý và tiêu hủy đã và đang vượt quá năng lực. Điều này là nguyên nhân chủ yếu tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe cộng đồng[41]. Đối với môi trường đất: Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom sẽ lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật đất. Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa.
Bên cạnh đó là chất thải nguy hại chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim loại nặng, chất phóng xạ… nếu không được xử lý đúng 6 cách mà chỉ được chôn lấp như rác thải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao, [38], [26]. Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trường Liên hợp quốc khi xét nghiệm mẫu đất tại bãi rác Dandora ở Nairobi, Kenya cho thấy nồng độ chì (Pb) trong các mẫu đất dao động 50-590 ppm và có 42% mẫu là có nồng độ trên 400 ppm; chỉ có một mẫu có nồng độ Pb là 50 ppm (tiêu chuẩn tham chiếu ở Hà Lan và Đài Loan)[49]. Đối với môi trường nước: Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường (2011) cho thấy Hà Nội tình trạng ô nhiễm amonia ở nước ngầm do hậu quả của nước rỉ rác và việc xả rác bừa bãi đang là vấn đề đáng báo động. Hầu hết các giếng khoan tại một số khu vực như quận Hoàng Mai, Gia Lâm, Hai Bà Trưng đều có amoni vượt tiêu chuẩn cho phép.
Hàm lượng amoni trong nước của nhà máy nước Tương Mai là 7-10mg/l; nhà máy nước Hạ Đình 10-15mg/l, có lúc lên đến 40mg/l; nhà máy nước Pháp Vân là 25- 30mg/l, có lúc lên đến 60mg/l [4]. Đối với môi trường không khí: Đặc biệt tại các bãi chôn lấp chất thải rắn thì mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại gây ô nhiễm không khí. Bãi rác Đa Phước tại TP Hồ Chí Minh được xác định là nguồn khí xú uế gây ảnh hưởng tới cộng đồng liền kề và Phú Mỹ Hưng. Theo kết quả nghiên cứu của Mohammad và nhóm cộng sự tại bãi chôn lấp rác ở Jardan cho thấy trong quá trình chôn lấp rác đã thải ra 45%-60% khí metan, 40%- 60% carbon dioxide, 2%-9% các khí khác phát tán vào môi trường không khí và các chất khí này gây mùi hôi thối bên trong và bên ngoài các bãi chôn lấp [41].
Tác hại của rác đối với sức khỏe con người Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn. Khi chôn lấp rác nếu không áp dụng theo đúng các quy định về kỹ thuật chôn lấp và xử lý thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh. Trong thành phần rác thải có rất nhiều chất độc, khi không được thu gom rác thải tồn đọng trong không khí lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức 7 khoẻ con người xung quanh. Những người thường xuyên tiếp xúc với rác thải, những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ rác thải dễ mắc bệnh viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi, họng,.
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Mark BR và cộng sự cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25 % dân số. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 %[39]. Nghiên cứu của tác giả Salam Abul tại bãi rác Golf Course thuộc thành phố Manzini cũng cho thấy 44% người dân ở gần khu vực bãi rác và 18% người dân cách khu vực bãi rác không xa nhập viện vì sốt rét; 50% dân cư nhập viện vì đau ngực; 26% dân cư nhập viện vì tiêu chảy và 12% nhập viện vì phẩy khuẩn tả [46]. Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) cũng cho thấy các chất ô nhiễm từ bãi rác có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của một số trẻ em và thanh thiếu niên của vùng dân cư sống gần khu vực bãi rác.
Trong đó 46,9% trẻ mắc bệnh hô hấp; 17,9% có vấn đề về đường ruột; 14,5% mắc các bệnh về da [49]. Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả George Rachiotis và cộng sự tại đô thị ở miền trung Hy Lạp (2012) [32] cho thấy tỷ lệ nhiễm viêm gan A trong số những người thu gom rác đô thị là 61% và 27% với những người làm vườn, sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy có sự liên quan giữa việc tiếp xúc chất thải với người nhiễm viêm gan A với OR=2,87; CI95% = 1,24-6,62. Tác hại của rác thải làm ảnh hưởng mỹ quan đô thị Chất thải rắn, đặc biệt là rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý hoặc thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm.
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh vẫn 8 còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ[4], [8]. Các biện pháp xử lý rác sinh hoạt 1. Xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ ép kiện Phương pháp ép kiện được thực hiện dựa trên cơ sở rác được phân loại trên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, plastic… được thu hồi để tái chế.
Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện với tỷ số nén rất cao. Công nghệ xử lý rác thải bằng phương pháp ép kiện Kim loại Thủy tinh Rác Phể nạp Băng tải Phân thải rác rác loại Giấy Nhựa Các khối kiện Băng tải thải Máy saukhi ép vật liệu éprác Sơ đồ 1. Xử lý rác bằng phương pháp ép kiện 1. Xử lý rác thải sinh hoạt bằng phương pháp ủ sinh học Ủ sinh học (compost) có thể được coi như là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học, tạo môi trường tối ưu đối với quá trình.
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ là một phương pháp truyền thống, được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển và ở Việt Nam. Phương pháp này được áp dụng rất có hiệu quả. Những đống lá hoặc đống phân có thể để hàng năm và thành chất thải hữu cơ rồi thành phân ủ ổn định, nhưng quá trình có thể tăng nhanh trong vòng một tuần hoặc ít hơn.