ĐẶT VẤN ĐỀ SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 2 TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Trên thế giới, sự xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng và giới hạn sự lựa chọn trong việc sử dụng thuốc để chữa bệnh, đặc biệt đối với sự xâm nhiễm của vi khuẩn Gram (-) và vi khuẩn Gram (+). Trong đó có các chủng kháng kháng sinh phổ biến nhất E.
coli, Staphylococcus aureus kháng Methicillin (MRSA) là nguyên nhân chính trong sự bùng nổ nhiễm khuẩn ở bệnh viện và ở cộng đồng trên toàn thế giới. Trong thập kỷ qua, đáng báo động là sự bùng nổ của vi khuẩn kháng thuốc sinh ESBL. Extended–spectrum β– lactamase (ESBL) chỉ định chung cho trực khuẩn Gram (-) sản xuất β–lactamase phổ rộng, enzym này có khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh tiêu diệt chúng (Horie và cs. Bên cạnh đó, theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) các vi khuẩn kháng kháng sinh được xếp vào mức độ ưu tiên hàng đầu là các loại A.
aeruginosa có khả năng kháng Carbapenem – là một trong những loại kháng sinh mạnh nhất của con người. Theo đó, sự lan truyền của vi khuẩn kháng carbapenem là một cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu (Nicolau và cs. Vì vậy việc tìm được nguồn thuốc mới thay thế các thuốc đang sử dụng hiện tại trở thành một vấn đề vô cùng cấp thiết, trong đó thực vật là dược liệu đầy tiềm năng. Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm vì vậy có hệ thực vật được dùng làm dược liệu vô cùng phong phú và đa dạng.
Đây chính là tài nguyên hết sức quý giá. Hiện nay, việc sử dụng các bài thuốc từ tự nhiên để hỗ trợ điều trị bệnh đang ngày càng phát triển, trong đó đáng kể đến là diệp hạ châu đắng (P. Diệp hạ châu đắng (P. amarus) được dân gian sử dụng để sát khuẩn, các bệnh của hệ niệu – sinh dục, đái tháo đường, lợi tiểu trị sỏi mật và sỏi thận, chống oxy hóa (Đỗ Huy Bích và cs., 2004), chống viêm (Harikrishnan và cs., 2018), chống lại virus viêm gan B (Thyagarajan và cs., 1988; Wang và cs., 1995), chống ung thư (Joy và cs.
Năm 2010 theo nghiên cứu của Adegoke và cộng sự, cho thấy cao chiết ethanol của lá cây diệp hạ châu đắng (P. amarus) có sự hiện diện của alkaloid, tannin và flavonoid và có tác dụng kháng lại các vi khuẩn S. coli và Klebsiella spp. (Adegoke và cs.
SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 3 TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Dhandapani và cộng sự (2017) đã nghiên cứu sàng lọc sơ bộ hợp chất tự nhiên của cao chiết từ lá và rễ diệp hạ châu đắng (P. amarus) cho thấy có sự hiện diện của các alkaloid, phytosterol, hợp chất phenolic và tannin, protein và amino acid, lignin và saponin.
Các hợp chất này đều cho thấy khả năng kháng khuẩn chống lại các chủng vi khuẩn gây bệnh như các vi khuẩn Gram (+) S. subtilis và vi khuẩn Gram (-) như E. coli (Dhandapani và cs. Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu được công bố về việc sử dụng các hợp chất tự nhiên trong cây diệp hạ châu đắng (P.
amarus) để kháng lại với các vi khuẩn kháng thuốc. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “PHÂN LẬP VÀ TINH CHẾ HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH KHÁNG VI KHUẨN GRAM ÂM KHÁNG THUỐC TỪ CAO CHIẾT DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG (Phyllanthus amarus)”. Mục tiêu: Phân lập và tinh chế hợp chất có hoạt chất kháng vi khuẩn Gram âm kháng thuốc từ cao chiết diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus). Nội dung thực hiện bao gồm: - Chiết xuất cao dược liệu từ cây diệp hạ châu đắng (P.
- Khảo sát hoạt tính kháng vi khuẩn kháng thuốc của cao chiết diệp hạ châu đắng (P. - Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao chiết ethyl acetate diệp hạ châu đắng (P. amarus) với vi khuẩn kháng thuốc. - Điều chế các phân đoạn từ cao ethyl acetate bằng phương pháp sắc ký cột.
- Xác định hoạt tính kháng vi khuẩn kháng thuốc của cao phân đoạn ethyl acetate. - Phân lập hợp chất tự nhiên trong cây diệp hạ châu đắng (P. amarus) có khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp sắc ký cột. SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 4 TS. NGUYỄN TẤN PHÁT PHẦN I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 5 TS.
NGUYỄN TẤN PHÁT 1. Tổng quan về nguyên liệu 1. Sơ lược về cây diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus). Tên khoa học: Phyllanthus amarus, thuộc họ: Thầu dầu (Euphorbiaceae), tên thường gọi: chó đẻ thân xanh, chó đẻ răng cưa, cam kiềm, rút đất, kham ham.
Vị trí phân loại: Giới: Plantae Ngành: Angiospermae Lớp: Dicotyledoneae Bộ: Tubiflorae Họ: Euphorbiaceae Chi: Phyllanthus Loài: Amarus Schum.et Thonn Hình 1. Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) (Hemant Dhongade và cs. Nguồn gốc và sự phân bố Diệp hạ châu đắng (P. amarus) là loài cây nhiệt đới, có nguồn gốc xa xưa ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và hiện nay phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới cổ.
Ở Châu Á gồm các nước Ấn Độ, Malaysia, Phillippin, Indonesia, Campuchia, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Nam Trung Quốc và cả ở vùng đảo Salawesi (Đỗ Huy Bích và cs. Ở Việt Nam, diệp hạ châu đắng (P. amarus) mọc rải rác khắp nơi, từ các tỉnh ở vùng đồng bằng, ven biển, các đảo lớn đến các tỉnh ở trung du và miền núi, có độ cao dưới 800 m. Ở các nước Đông Nam Á, độ cao phân bố của diệp hạ châu đắng (P.
amarus) có thể lên tới 1. có nhiều loài, gồm những cây thảo đến các cây bụi hay gỗ nhỏ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 6 TS.
NGUYỄN TẤN PHÁT Ở Việt Nam, chi này có khoảng 40 loài. Trên thế giới, các loài này cũng có phân bố rộng rãi ở một số nước nhiệt đới Châu Á như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Lào và ở cả Nam Trung Quốc. Diệp hạ châu đắng (P. amarus) là cây ưa ẩm và ưa sáng hoặc có thể hơi chịu bóng, thường mọc lẫn trong các bãi cỏ, ở ruộng cao, nương rẫy, vườn nhà và đôi khi ở vùng đồi không chịu được ngập úng.
Cây sống được trên nhiều loại đất (đất bazan, đất pha cát, đất cát, đất phù sa…) pH từ 5,0 đến 6,5. Cây con mọc từ hạt vào cuối mùa xuân; sinh trưởng nhanh trong mùa hè và tàn lụi vào giữa mùa thu. Biên độ nhiệt thích hợp cho cây sinh trưởng là 25–30oC. Do khả năng ra hoa kết quả nhiều, hạt giống phát tán gần nên cây thường mọc thành đám dày đặc, đôi khi lấn át cả các loại cỏ dại và cây trồng khác, vòng đời kéo dài 3–5 tháng (Đỗ Huy Bích và cs.
Đặc điểm hình thái Cây thảo, sống hằng năm hay sống dai, cao khoảng 20–30 cm, có thể đến 60–70 cm. Thân nhẵn, mọc thẳng đứng, lá mọc so le, hình bầu dục, xếp sít nhau thành hai dãy như một lá kép hình lông chim. Phiến lá thuôn, dài 1–1,5 cm, rộng 3– 4 mm, đầu lá nhọn hay hơi tù, mép có răng cưa rất nhỏ, mặt dưới lá màu xanh lơ; cuống lá rất ngắn. Hoa mọc ở kẽ lá, có cuống ngắn, đơn tính cùng gốc; hoa đực ở đầu cành có 6 lá dài, 3 nhị, chỉ nhị ngắn; hoa cái ở cuối cành, 6 lá dài, bầu hình trứng.
Quả nang, hình cầu, hơi dẹt, mọc rủ xuống dưới lá, có khía mờ và có gai, hạt hình 3 cạnh. Mùa hoa: tháng 4–6; mùa quả: tháng 7–9 (Đỗ Huy Bích và cs. Thành phần hóa học của diệp hạ châu đắng (P. amarus) Diệp hạ châu đắng (P.
amarus) là loại cây thân thảo chứa nhiều hợp chất như alkaloids, saponin, tannin, flavonoid, glycoside cyanogen, lignan và steroid mang lại nhiều tác dụng hữu ích. Diệp hạ châu đắng (P. amarus) có các hợp chất chủ yếu như lignans, geraniin và 5 hợp chất của flavonoids như quercertin, astralgin, quercertrin, isoquercitrin và rutin (Sharma và cs., 1993; Somanabandhu và cs. Theo SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 7 TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Pereira và cộng sự (2016) đã xác định trong toàn cây diệp hạ châu đắng (P. amarus) có 7 hợp chất lignan là 5–demethoxy–niranthin, phyllanthin, filtetralin, 5–demethox nirtetralin, nirtetralin, hipophyllanthin và niranthin, trong đó chiếm chủ yếu là phyllanthin và hipophyllanthin (Pereira và cs. Đồng thời trong cây diệp hạ châu đắng (P.
amarus) cũng chứa những hợp chất nhỏ như hydrolysable tannin là phyllanthusiin D (Houghton và cs., 1996), amariin (Foo, 1993), amarulone (Rao và Bramley, 1971), amarinic acid, alkaloid như ent–norsecurinine, sobubbialine, epibubbialine, diarylbutane, nyrphyllin và neolignan, phyllnirurin. Phyllanthin Hipophyllanthin Quercertin Isoquercitrin Rutin Hình 1. Cấu trúc các hợp chất phân lập trong cây diệp hạ châu đắng (P. amarus) SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 8 TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Phyllanthusiin D Amariin Amarulone Amarinic acid Ent-norsecurinine Sobubbialine Hình 1.3 Cấu trúc của các hợp chất phân lập trong cây diệp hạ châu đắng (P. amarus) (tiếp theo) SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 9 TS.
NGUYỄN TẤN PHÁT Epibubbialine Neolignan Phyllnirurin Epibubbialine Neolignan Hình 1. Cấu trúc của các hợp chất phân lập trong cây diệp hạ châu đắng (P. Giá trị dược liệu của cây diệp hạ châu đắng (P. Diệp hạ châu đắng (P.
amarus) là loại cây thân thảo chứa nhiều hợp chất như alkaloids, saponin, tannin, flavonoid, glycoside cyanogen và steroid mang lại nhiều tác dụng hữu ích. Theo kinh nghiệm dân gian ở Việt Nam và Trung Quốc, tất cả bộ phận cây diệp hạ châu đắng (P. amarus) được phơi khô, sắc uống dùng chữa đau viêm họng, đinh râu, mụn nhót, viêm da, lở ngứa, sản hậu ứ huyết đau bụng, trẻ em tưa lưỡi, SVTH: ĐẶNG THỊ SEN GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Trang 10 TS.
NGUYỄN TẤN PHÁT chàm má. Người Ấn Độ sử dụng diệp hạ châu đắng (P. amarus) để trị ho, viêm phế quản, hen phế quản, lao,… Ngoài ra diệp hạ châu đắng (P. amarus) còn có khả năng làm hạ men gan, tăng cường chức năng gan và ức chế sự phát triển của virus viêm gan siêu vi B (Break Stone và cs.
Năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã khám phá được tác dụng ức chế sự phát triển HIV–1 từ cao chiết diệp hạ châu đắng (P. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Dược Santa Catarina (Brazil, 1984) đã phát hiện alkaloid có trong diệp hạ châu đắng (P. amarus) có tác dụng chống co thắt cơ vân và cơ trơn, các nhà khoa học đã nhờ vào điều này để giải thích hiệu quả điều trị sỏi thận, sỏi mật. Theo Thyagarajan và cộng sự (1988) đã nghiên cứu cho thấy cao chiết từ bột của cây P.