Đặt vấn đề Quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa và việc thực hiện chương trình Nông thôn mới đã tạo điều kiện cho khu vực nông thôn phát triển về mọi mặt đời sống xã hội. Sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn đã tác động đến cơ cấu xã hội nông thôn nói chung và cơ cấu của gia đình nhất là khi phụ nữ ngày càng khẳng định được vị thế của mình, trở thành một lực lượng lao động xã hội đông đảo, đóng góp hiệu quả vào sự phát triển của nền kinh tế. Ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp vẫn là hoạt động mang lại thu nhập chính cho nhiều gia đình ở nông thôn. Để đảm bảo sản xuất đạt hiệu quả, luôn đòi hỏi phải có sự phối hợp, hỗ trợ giữa vợ và chồng trong các công việc sản xuất, từ việc phòng trừ sâu bệnh hại cho đến chọn mua giống, phân bón…cũng như trong các công việc gia đình.
Sự phân công lao động hợp lý giữa vợ và chồng trong việc thực hiện các công việc gia đình không những là chìa khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm ấm của gia đình, tạo điều kiện cho sự phát triển cho cả nam giới và nữ giới về mặt xã hội mà còn giúp cải thiện địa vị của mỗi giới, đặc biệt là địa vị của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội (Mai Bích Huy, 2009) Trong xã hội truyền thống, người phụ nữ (người vợ) mặc định phải biết nữ công gia chánh, tề gia nội trợ, biết thêu thùa, may vá, chăm sóc các thành viên trong gia đình. Ngược lại, vai trò của nam giới (người chồng) là trụ cột gia đình, gánh vác những công việc xã hội theo mô hình “nam ngoại nữ nội”. Cho đến nay, khuôn mẫu truyền thống xác định vai trò của vợ và chồng vẫn được lưu giữ trong nhiều gia đình, khiến cho phụ nữ và nam giới đều được gắn cho những loại công việc nhất định được coi là phù hợp với giới tính của mình dù cho cả 2 vợ chồng đều tham gia hoạt động sản xuất, tạo thu nhập cho gia đình (Nguyễn Hữu Minh, 2008), (Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn, 2005). Tuy nhiên, ở một số gia đình, cũng đã có sự thay đổi khi mà nam giới (người 1 chồng) cũng bắt đầu có sự chia sẻ, hỗ trợ phụ nữ (người vợ) thực hiện các công việc nội trợ (Nguyễn Thị Hoàng Anh, 2019).
Trên thực tế, có rất nhiều nghiên cứu đối với vấn đề phân công lao động trong gia đình nhằm mô tả hiện trạng ai làm gì? Ai quyết định việc gì? Ai là người tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong hoạt động sản xuất cũng như trong hoạt động gia đình, cộng đồng… Trong các nghiên đó đó, đều phản ánh tình trạng, cho dù, cả vợ và chồng cùng tham gia hoạt động sản xuất nhưng so với người chồng (nam giới), phụ nữ nông thôn luôn bị lép vế, lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm, ít có tiếng nói trong gia đình, không được tham gia vào các công việc của xã hội. Họ vẫn thường đảm nhận vai trò kép, vừa làm lao động sản xuất, lại vừa làm lao động gia đình, mặc dù họ còn là người mang lại thu nhập chính cho gia đình. Chính vì vậy, nghiên cứu về phân công lao động giữa vợ và chồng luôn là một vấn đề cấp thiết. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình sản xuất nông nghiệp” (nghiên cứu trường hợp tại xã Bạch Đằng huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng) được thực hiện nhằm tìm hiểu sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình sản xuất nông nghiệp hiện nay như thế nào? Ai là người có quyền ra quyết định? Ai là người được tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong gia đình? 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình sản xuất nông nghiệp tại xã Bạch Đằng huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng 1.2 Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu về tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình trong mẫu điều tra tại xã Bạch Đằng huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng - Tìm hiểu sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất của các gia đình tại xã Bạch Đằng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
2 -Tìm hiểu sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất của các gia đình tại xã Bạch Đằng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng - Tìm hiểu sự tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực giữa giữa vợ và chồng trong các gia đình tại xã Bạch Đằng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung tìm hiểu sự phân công lao động giữa giữa vợ và chồng trong các gia đình sản xuất nông nghiệp.2 Khách thể nghiên cứu Những hộ gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp tại xã Bạch Đằng huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng 1.3 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: tại địa bàn xã Bạch Đằng huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng. Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp từ năm 2015 trở lại đây. Phạm vi nội dung: Đề tài tập chung đi sâu vào nghiên cứu sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất của các gia đình sản xuất nông nghiệp trên những khía cạnh sau: tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình, sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất của các gia đình, sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất, sự tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực giữa giữa vợ và chồng trong các gia đình 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2.
Các lý thuyết về giới Quan điểm về tiếp cận giới cho rằng, việc mỗi giới tự nhận mình trong các vai trò hôn nhân và gia đình đề gắn với yếu tố giới được định hình từ trước. Yếu tố giới được dùng để giải thích tại sao phụ nữ có xu hướng làm những việc được coi là việc đàn bà (nấu nướng, giặt giũ…), trong khi nam giới làm việc đàn ông. Những người theo phái nữ quyền (feminists) nhìn gia đình như một kiến trúc có bản chất xã hội, phần nhiều do con người tự nghĩ ra và không dựa trên cơ sở những tất yếu mang tính tự nhiên. Các vai trò trong gia đình là kết quả đã định trước của các quan hệ quyền lực mà theo đó nam giới có quyền gán những công việc nhất định cho người phụ nữ và loại trừ họ khỏi các công việc khác.
Các nhà kinh tế lập luận rằng, hôn nhân và các dàn xếp trong gia đình hoạt động như những hợp đồng ẩn dụ, bao gồm sự trao đổi thường xuyên giữa hai vợ chồng và những tương tác khác. Người chồng thường có quyền nhiều hơn vợ và sự thống trị của nam giới mạnh hơn khi người vợ thuần túy là người nội trợ. Sự gia tăng việc làm có thu nhập của người phụ nữ làm cho họ có khả năng tài chính để quyết định nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của chính họ và con cái họ. Sự khác biệt giữa nam và nữ về vị trí trong phân tầng xã hội ở cả hai chiều giai cấp và địa vị.
Collins phân biệt giai cấp như vị trí quyền lực, địa vị như vị trí có liên quan đến các phương tiện vật chất của sự sản xuất mang tính văn hóa. Bối cảnh này dẫn đến hai cuộc đấu tranh giai cấp trái ngược nhau: công nhân đối diện với nhà tư bản trong nền kinh tế bên ngoài và các bà nội trợ đối diện với với các ông chồng – nhà tư bản trong nền kinh tế gia đình. 4 Lý thuyết giới còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sinh thái và công nghệ. Ba luận điểm cơ bản được nhấn mạnh: Người nào sản xuất ra của cải thì có xu hướng có nhiều quyền lực và uy tín hơn người tiêu dùng nó.
Vì nam giới không thể mang thai và nuôi dưỡng trẻ em nên những nhiệm vụ thích hợp đối với việc nuôi dưỡng con cái được giao cho phụ nữ. Quyền lực và uy tín lớn nhất thường nằm trong tay người có khả năng kiểm soát việc phân phối các của cải có giá trị vượt ra ngoài khuôn khổ gia đình. Các lý thuyết về giới được vận dụng để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giới như do sự khác biệt về giới, do thiên chức được quy định như một chức năng sinh học, những công việc thích hợp với phụ nữ…, do định kiến xã hội. Đồng thời yếu tố kinh tế cũng là một nhân tố quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của những người phụ nữ trong gia đình.
Lợi thế của người đàn ông sẽ giảm đi khi phụ nữ có thu nhập bằng tiền và khi người phụ nữ dành nhiều thời gian cho công việc ngoài xã hội thì tâm thế của họ hướng về gia đình giảm đi (Mai Huy Bích, 2009). Vận dụng các quan điểm lý thuyết về giới trong đề tài này nhằm làm rõ phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất nông nghiệp, công việc mỗi người đảm nhậm trong sản xuất, cũng như khả năng tiếp cận và sử dụng các nguồn lực trong sản xuất.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng Lý thuyết cấu trúc chức năng ra đời vào những năm 40 – 50 của thế kỷ XX với những đại diện tiêu biểu như Talcott Parsons, Robert Merton, Murdock. Thuyết cấu trúc phân tích cơ cấu của xã hội, những mối liên hệ giữa các hệ thống khác nhau của nó. Họ coi xã hội tương tự như một cơ thể, bao gồm nhiều cơ quan, nhiều bộ phận và mỗi bộ phận đảm nhận một chức năng nhất định.
Khi một bộ phận này thay đổi, nó kéo theo sự thay đổi của các bộ phận khác nhằm cân bằng lại. 5 Khi phân tích về mối quan hệ giới trong gia đình, những nhà xã hội học theo lý thuyết cấu trúc chức năng cho rằng, phụ nữ và nam giới là những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội và có quan hệ về mặt xã hội hết sức chặt chẽ. Việc thực hiện chức năng và vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong phạm vi gia đình và cộng đồng là một trong những yếu tố thể hiện mối quan hệ xã hội giữa họ.