Đặt vấn đề Gia đình là tế bào của xã hội, không chỉ ảnh hưởng tới đời sống của mỗi cá nhân mà còn tác động tới quá trình phát triển xã hội. Trong xã hội truyền thống, người phụ nữ không được bình đẳng như nam giới vì vậy sự tiến thân trong xã hội là điều ít được biết đến. Ngược lại, người nam giới được coi trọng hơn, giữ vị trí là người trụ cột trong gia đình, tham gia các công việc của cộng đồng nên họ đã không ngừng nâng cao địa vị của mình ngoài xã hội. Ngày nay, khi nước ta đang trên đà phát triển dẫn đến sự thay đổi mới tư duy trên mọi lĩnh vực, điều này đã tạo ra sự chuyển đổi về cơ cấu xã hội và cùng với đó có sự thay đổi của phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình.
Hiện nay, phụ nữ chiếm 50,2% dân số và 47,3% lực lượng lao động, phụ nữ đang ngày càng khẳng định rõ nét vai trò vị trí của mình khi tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.3% số người vợ được hỏi cho rằng thu nhập của họ quan trọng đối với gia đình, 44.5% người vợ có thu nhập cao hơn chồng trong khi chỉ có 34% người vợ nói chồng có thu nhập cao hơn vợ (Nguyễn Hữu Minh, 2016). Bên cạnh đó, người chồng cũng dần chia sẻ gánh nặng công việc với vợ bằng cách họ dần tham gia vào các công việc tái sản xuất. Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu. Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn cũng nằm trong tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước.
Với đặc thù là một nước nông nghiệp, làng nghề truyền thống có một vị trí quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Làng nghề truyền thống là một trong những đặc thù của nông thôn nước ta, nó đã xuất hiện từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước. Các làng nghề như làng gốm sứ 1 Bát Tràng (Hà Nội), làng tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), nghề thêu ren Văn Lâm (Ninh Bình), hay làng nghề gỗ mộc La Xuyên (Nam Định), …vẫn còn đang được bảo tồn, lưu truyền và phát triển tới ngày nay, tạo ra nhiều việc làm, giải quyết tình trạng dư thừa nguồn lao động tại nông thôn. Năm 2020, cả nước có gần 1,3 triệu lao động thiếu việc làm từ 15 tuổi trở lên.
Trong đó, 77,5% lao động thiếu việc làm cư trú ở khu vực nông thôn (tương đương 982 nghìn người) (Tổng Cục Thống Kê, 2020) đã góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người nông dân tránh được luồng di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị. Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp gỗ của Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện nay có khoảng trên 300 làng nghề mộc với gần 50% số làng nghề này tập trung tại vùng Đồng bằng Sông Hồng. Làng nghề mộc đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.000 lao động đang làm việc tại các làng nghề điều này tạo cơ hội việc làm cho nhiều người lao động, đặc biệt lao động tại vùng nông thôn. Bên cạnh đó, các làng nghề hiện nay cung cấp trên 80% tổng đồ gỗ nội thất và xây dựng cho thị trường nội địa (Tô Xuân Phúc & cs.
Tạo điều kiện phát triển kinh tế cho các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống, điều đó cũng dẫn đến sự thay đổi về giới làm cho cả nam giới và phụ nữ đều tự nhận thức được vai trò của bản thân mình trong gia đình, họ tự điều chỉnh và thích nghi với nhau trong suy nghĩ và hành động. Nghề thủ công có vai trò quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng giới, thể hiện qua việc phân công lao động và vai trò của phụ nữ đối với các nghề truyền thống, cũng như phát huy năng lực và tạo việc làm đối với nhiều phụ nữ. Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề giới trong việc đảm nhận công việc gia đình nhưng các nghiên cứu tập trung nhiều vào phân công lao động trong gia đình nói chung, ít có các nghiên cứu đi sâu vào vấn đề phân công lao động của gia đình ở các làng nghề truyền thống, đặc biệt là các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống. 2 Trung Đông là một xã nằm ở phía Bắc huyện Trực Ninh, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hoàn thiện cả về công - nông nghiệp và dịch vụ, bên cạnh canh tác đất nông nghiệp thì người dân nơi đây cũng hình thành nên các làng nghề và đặc biệt có làng nghề mộc Trung Lao hiện vẫn còn được duy trì và phát triển, tạo ra khối lượng việc làm giúp cho người dân trên địa bàn xã có thêm công việc và thu nhập để cải thiện mức sống gia đình.
Chính vì vậy, đã tạo được bước đột phá trong phát triển kinh tế, số hộ khá và giàu trong xã tăng nhanh, hộ nghèo giảm chỉ còn 1,76%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 54 triệu đồng/năm (Khánh Dũng, 2021). Tuy nhiên, việc làm mộc đòi hỏi cần phải có sức lao động và sự tỉ mỉ trong tất cả các khâu sản xuất, khi nói đến nghề mộc thường nghĩ ngay đó là nghề của người đàn ông nên chính vì vậy phần lớn trong các gia đình, việc làm mộc vẫn do người đàn ông làm chính và đưa ra quyết định, còn người phụ nữ chỉ mang tính phụ giúp, tuy nhiên ở một số hộ gia đình người vợ cũng dần tham gia vào quá trình làm mộc khẳng định vai trò của mình trong hoạt động sản xuất, điều này làm tăng giá trị của người phụ nữ trong gia đình. Vì vậy, việc phân công lao động trong các hộ gia đình làm nghề mộc là rất cần thiết, giúp cho vợ chồng san sẻ gánh nặng trong công việc cũng như các công việc khác trong gia đình. Sự phân công lao động hợp lý sẽ quyết định đến hiệu quả kinh tế của gia đình trong việc sản xuất đồ gỗ mộc.
Vậy cuộc sống của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống có khác gì so với hộ gia đình khác? Sự phân công lao động trong gia đình như thế nào? Hiệu quả của sự phân công đó ra sao? Xuất phát từ vấn đề đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Phân công lao động giữa vợ và chồng của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống” (Nghiên cứu trường hợp tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) 1.Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống. Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu đặc điểm chung của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu sự phân công lao động giữa vợ và chồng của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống. Khách thể nghiên cứu Các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống, được nghiên cứu theo vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất.
Từ đó có thể thấy được vị thế của người vợ và người chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội, và ai sẽ là người quyết định mọi việc trong gia đình. Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Phạm vi thời gian: + Thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2012 trở lại đây. + Thông tin sơ cấp được thu thập từ tháng 3 năm 2022.
4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2. Lý thuyết quan điểm tiếp cận giới Quan điểm này yêu cầu nghiên cứu về nam giới và nữ giới đặt trong mối quan hệ qua lại với nhau. Trước hết, ta phải làm rõ sự khác biệt và đồng nhất giữa nam giới và nữ giới ở những đặc điểm bẩm sinh không thể thay đổi được, những đặc điểm xã hội do học hỏi mà có, những đặc điểm do xã hội quy gán và những đặc điểm có tính lịch sử và có thể thay đổi được.
Tiếp cận giới phải chú ý đến mối quan hệ của hai giới trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình, trong lao động, trong hưởng thụ các giá trị vật chất - tinh thần, về quyền và nghĩa vụ của mỗi giới trong gia đình và ngoài xã hội. Như vậy, bằng cách so sánh những chức năng tự nhiên và xã hội giữa nam giới và nữ giới, bằng cách so sánh mọi khía cạnh của quá trình thực hiện vai trò giáo dục đạo đức con cái, so sánh những xuất phát điểm đi lên của từng giới ta có thể đánh giá được sự phân công vai trò giữa nam giới và nữ giới trong giáo dục đạo đức cho con, cũng như trong các công việc gia đình. Quan điểm tiếp cận giới đòi hỏi phải nghiên cứu mối quan hệ giới trong bối cảnh kinh tế-xã hội, trong những giai đoạn phát triển của lịch sử để thấy được những nguyên nhân xã hội quy định mối quan hệ giới. Cần phải dựa trên sự phân tích khách quan khoa học, trên những số liệu thực tế để không có cái nhìn thiên lệch về giới nào.
Từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu thiết lập sự bình đẳng giới trên mọi mặt, phát huy năng lực, khả năng sáng tạo của cả hai giới đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Như vậy, vận dụng lý thuyết này để thấy được sự phân công lao động theo giới trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Theo những đặc điểm sinh học khác nhau thì mỗi người sẽ có vai trò khác nhau 5 đáp ứng nhu cầu của gia đình cũng như xã hội.