CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHAN CAP QUAN LY CHI NGAN SACH NHA NƯỚC 1.1 NGAN SACH NHA NU6C 1.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước cho đến nay có rất nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu đưa ra nhưng chưa có khái niệm thống nhất. Theo các nhà kinh tế cổ điển thì: “Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các khoản thu, chỉ của Chính phủ, được thiết lập hàng năm”, còn theo nhiều nhà kinh tế hiện đại thì cho rằng: “Ngân sách là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền mặt trong một giai đoạn nhất định của nhà nước”. Theo điều 1, Luật Ngân sách Nhà nước ban hành năm 2002 định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyên quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ”[1,tr.5] Tuy có nhiều quan niệm về ngân sách nhà nước nhưng giữa chúng có những điểm chung: - Ngân sách nhà nước là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi của một chủ thể trong một thời gian nhất định, thường là một năm — gọi là năm tài chính. - Ngân sách nhà nước của một quốc gia được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành, nó là công cụ kinh tế của Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Nội dung chủ yếu của ngân sách là thu, chỉ nhưng không phải là các con số, cũng không chỉ là quy mô, sự tăng giảm số lượng tiền tệ đơn thuần, mà còn phản ánh chủ trương phân cấp quản lý của Nhà nước, biểu hiện các quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyên, giữa nhà nước và các chủ thé kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân trong quá trình phân bổ các nguồn lực của phân phối thu nhập.2 Bản chất của Ngân sách nhà nước Hoạt động của ngân sách Nhà nước là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, là quá trình giải quyết quyên lợi kinh tế giữa Nhà nước và xã hội với kết quả là các nguồn tài chính được phân chia thành hai phần: phần nộp vào ngân sách Nhà nước và phần để lại cho các thành viên của xã hội. Phần nộp vào ngân sách Nhà nước sẽ tiếp tục phân phối lại, thể hiện qua các khoản cấp phát từ ngân sách cho các mục đích tiêu dùng và đầu tư. Trong quá trình phân phối giá trị tong sản phẩm quốc dân đã làm xuất hiện hệ thống các quan hệ tài chính. Hoạt động thu chi Ngân sách Nhà nước cũng là hoạt động tài chính và cũng làm nảy sinh các quan hệ tài chính.
Hệ thống các quan hệ tài chính tạo nên bản chất của ngân sách Nhà nước được thể hiện dưới hình thức cụ thể, đó là các mối quan hệ sau: Một là, quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Hai là, quan hệ tài chính giữa ngân sách Nhà nước với các đơn vị quản lý Nhà nước nằm trong các lĩnh vực sự nghiệp văn hóa xã hội, hành chính và an ninh quốc phòng. Ba là, quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với hộ gia đình và dân cư. Bốn là, quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với thị trường tài chính.
Qua sự phân tích trên ta thấy mặc dù biểu hiện của ngân sách Nhà nước rất đa dạng và phong phú, nhưng về thực chất chúng đều phản ánh lại nội dung cơ bản là: ~ Ngân sách Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính, nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. - Quyền lực ngân sách thuộc về Nhà nước, mọi khoản thu và chỉ tài chính của Nhà nước đều do Nhà nước quyết định và nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước. Những nội dung trên chính là những mặt, những mối liên hệ quyết định sự phát sinh, phát triển của ngân sách Nhà nước. Do đó, có thê kết luận bản chất của ngân sách Nhà nước: ngân sách Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình huy động, sử dụng các nguôn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình.3 Chức năng của Ngân sách nhà nước Qua phân tích bản chất và tính tất yếu khách quan của ngân sách Nhà nước có thê thấy chức năng của ngân sách Nhà nước bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau: Ngân sách Nhà nước là công cụ thực hiện việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội, đằng sau hoạt động thu chi ngân sách bằng tiền là sự thể hiện quá trình phân bổ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngân sách Nhà nước là bộ phận của tài chính nhà nước nên nó có chức năng phân phối, chức năng giám đốc. Trong nên kinh tế thị trường việc phân bé nguồn lực xã hội được thực hiện chủ yếu theo 2 kênh: kênh của các lực lượng thị trường và kênh của Nhà nước thông qua hoạt động thu chi của tài chính Nhà nước nói chung và ngân sách nói riêng từ đó nó còn có chức năng điều chỉnh quá trình kinh tế xã hội thông qua các công cụ của nó.4 Vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế Vai trò của ngân sách Nhà nước được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiêm vụ cụ thê của nó trong từng giai đoạn.1 Huy động các nguồn lực tài chính Huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước là một vai trò quan trọng có tính chất truyền thống của ngân sách Nhà nước. Vai trò đó bắt nguồn từ nhu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy quản lý Nhà nước. Hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính đề chỉ tiêu cho những mục đích xác định.
Các nhu cầu chỉ tiêu này được théa mãn bằng các nguôn thu ngân sách Nhà nước, mà chủ yếu là thuế. Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng nguồn lực tài chính Nhà nước tập trung vào tay mình thông qua công cụ ngân sách Nhà nước là kết quả hoạt động kinh tế của các chu thé trong nền kinh tế. Do đó việc động viên nguồn lực tài chính không phải là vô hạn mà cần có sự cân nhắc tính toán can thận. Có như vậy mới phát huy vai trò tích cực của ngân sách Nhà nước trong việc động viên nguồn lực tài chính cho Nhà nước.
Tiêu chuẩn quan trong dé phat huy vai trò động viên của ngân sách Nhà nước là phải xem xét đến khía cạnh lợi ích giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế. Phạm vi, mức độ động viên của ngân sách Nhà nước sao cho phù hợp giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích tụ và tập trung nhằm không ngừng gia tăng các nguồn lực tài chính của xã hội.2 Điều tiết vĩ mô nên kinh tế Xuất phát từ điều kiện cụ thể, trong giai đoạn hiện nay, ngân sách Nhà nước có vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà nước. Vai trò này xuất hiện trước nhu cầu phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường, giúp nền kinh tế - xã hội phát triển cân đối và hợp lý hơn. Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô của mình thông qua các hoạt động thu chi ngân sách, thé hiện theo ba nội dung cơ bản sau: 10 Về mặt kinh tế: Để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và thúc đây tăng trưởng kinh tế, đòi hỏi sự cần thiết phải có Nhà nước can thiệp.
Trong đó, Nhà nước có vai trò định hướng hình thành cơ câu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất, kinh doanh và chống độc quyền. Nhà nước không thể bỏ qua công cụ ngân sách khi thực hiện vai trò này. Ngân sách Nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư cho kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp ở các ngành then chốt và mũi nhọn. Các khoản chi đầu tư của ngân sách Nhà nước có tác dụng định hướng hình thành cơ cấu kinh tế và là động lực thúc đây sự ra đời của các cơ sở kinh tế mới.
Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng các công cụ bộ phận của ngân sách Nhà nước là thuế và chỉ đầu tư của ngân sách để hướng dẫn, kích thích và tạo sức ép đối với các chủ thể trong hoạt động kinh tế. Với việc phối hợp vận dụng thuế trực thu và thuế gián thu, thuế suất thích hợp có tác dụng hướng dẫn, khuyến khích thúc đây các thành phần kinh tế mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo ra môi trường cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư và định hướng đầu tư của khu vực doanh nghiệp. Về mặt xã hội: Thực tiễn cho thấy áp dụng mô hình kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực, cũng làm nảy sinh nhiều khía cạnh tiêu cực mà bản thân kinh tế thị trường đơn thuần không thể giải quyết được như vấn đề phân cực giàu nghèo, các tệ nạn xã hội. Để giải quyết các van đề đó cần có sự can thiệp của Nhà nước.
Trong kinh tế thị trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội nảy sinh thuộc về chức năng, vai trò, nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Để thực hiện vai trò đó, Nhà nước phải sử dụng đến công cụ ngân sách Nhà nước. Thông qua công cụ thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập đảm bảo công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách chênh lệch thu nhập. Thông qua các khoản chi Ngân sách nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển công bằng văn minh.
ll Về mặt thị trường: ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về ồn định giá cả, thị trường. Cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau va chi phối mạnh sự hoạt động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung va cầu sẽ tác động đến giá cả, làm cho giá cả tăng hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường. Đồng thời, mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc tới tình hình thị trường.