Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê tư pháp hình sự giai đoạn 2005 - 2009, các vụ án có dấu hiệu phạm tội chưa đạt chiếm tỷ lệ từ 3,5% đến 5,2% trong tổng số các vụ án hình sự sơ thẩm được xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp trên toàn quốc. Trong hoạt động tư pháp, các giai đoạn phạm tội phản ánh từng bước phát triển khách quan của hành vi cố ý, thể hiện mức độ nguy hiểm tăng dần cho xã hội. Tuy nhiên, việc nhận diện và phân định ranh giới giữa chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong thực tiễn xét xử còn tồn tại nhiều điểm chưa thống nhất, dẫn đến tỷ lệ bản án bị cấp giám đốc thẩm tuyên hủy hoặc sửa chữa liên quan đến việc định tội danh và lượng hình vẫn chiếm khoảng 1,2% đến 2,0% mỗi năm.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự tập trung nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định phạm tội chưa đạt theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, các tiêu chí phân loại khoa học, cũng như nguyên tắc quyết định hình phạt đối với hành vi phạm tội chưa hoàn thành quy định tại Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ trước năm 1945 đến giai đoạn hiện đại, đồng thời khảo sát chuyên sâu dữ liệu thực tiễn xét xử trong 10 năm (2000 - 2009), trọng tâm là giai đoạn 5 năm từ 2005 đến 2009 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và các tòa án địa phương trên toàn quốc. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa then chốt nhằm cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, hướng tới mục tiêu giảm thiểu 100% các sai sót định danh tội phạm chưa đạt và bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa hình phạt nghiêm minh, công bằng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết cấu thành tội phạm và học thuyết về các giai đoạn thực hiện tội phạm do cố ý trong khoa học luật hình sự Việt Nam, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu kinh điển của Giáo sư Viện sĩ Lê Văn Cảm và tập thể các nhà khoa học đầu ngành. Luận văn vận dụng mô hình phân chia quá trình thực hiện tội phạm do cố ý thành 3 giai đoạn kế tiếp nhau: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh hệ thống 4 khái niệm pháp lý trọng tâm:

  1. Giai đoạn phạm tội do cố ý trực tiếp: Tập hợp các bước phát triển khách quan mà chủ thể trải qua nhằm thỏa mãn dần các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể.
  2. Phạm tội chưa đạt: Hành vi cố ý trực tiếp bắt đầu thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan nằm ngoài ý muốn của người phạm tội.
  3. Phân loại phạm tội chưa đạt: Hệ thống hóa thành hai dạng thức gồm phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành (chưa thực hiện hết các hành vi khách quan cần thiết) và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành (đã thực hiện hết hành vi nhưng hậu quả chưa xảy ra).
  4. Phạm tội chưa đạt vô hiệu: Tình huống khách quan dẫn đến việc tội phạm không đạt do phương tiện vô hiệu hoặc đối tượng tác động không tồn tại trên thực tế.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng phương pháp luật học so sánh để đối chiếu quy định về phạm tội chưa đạt giữa Bộ luật Hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự của 4 quốc gia tiêu biểu: Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996 (Điều 30, Điều 31, Điều 67), Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997 (Điều 23), Bộ luật Hình sự Cộng hòa Pháp năm 1994 (Điều 111-1, Điều 121-5) và Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp là hồ sơ xét xử thực tế với cỡ mẫu gồm 450 bản án hình sự sơ thẩm và 65 quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009.

Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các nhóm tội danh điển hình có tần suất xuất hiện hành vi phạm tội chưa đạt cao nhất, bao gồm nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe (như Tội giết người tại Điều 93), nhóm tội xâm phạm sở hữu (như Tội cướp tài sản tại Điều 133) và nhóm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự (như Tội hiếp dâm tại Điều 111 Bộ luật Hình sự năm 1999).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính quy phạm kết hợp với phương pháp điều tra án điển hình và thống kê tư pháp định lượng là nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều. Phương pháp định tính làm sáng tỏ cấu trúc nội tại của ý thức chủ quan và hành vi khách quan, trong khi phương pháp thống kê định lượng giúp đánh giá chính xác thực trạng lượng hình của các Thẩm phán theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu được thực hiện liên tục trong thời gian 18 tháng, đối chiếu xuyên suốt giữa quy định lý thuyết với thực tiễn áp dụng từ năm 1985 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tiễn xét xử từ 450 bản án giai đoạn 2005 - 2009 cho thấy các phát hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, về cơ cấu tội danh, hành vi phạm tội chưa đạt tập trung chủ yếu ở nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, chiếm tới 58,4% tổng số vụ án được khảo sát. Nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu chiếm vị trí thứ hai với 31,2%, trong khi nhóm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự và các tội phạm khác chiếm 10,4%.

Thứ hai, về hình thức biểu hiện, tỷ lệ phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành chiếm đa số với 64,5%, trong khi phạm tội chưa đạt đã hoàn thành chiếm 35,5%. Nguyên nhân khiến tội phạm bị chặn đứng xuất phát từ sự can thiệp, ngăn cản kịp thời của người bị hại hoặc quần chúng nhân dân chiếm 72,0%; do yếu tố công cụ, phương tiện và sự ứng cứu y tế chiếm 28,0%.

Thứ ba, về áp dụng quy định lượng hình theo Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999, có khoảng 28,6% số bản án sơ thẩm gặp khó khăn trong việc xác định mức trần hình phạt không vượt quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, đặc biệt là khi kết hợp với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc khi xét xử người chưa thành niên phạm tội, dẫn đến sự dao động mức án tuyên chênh lệch từ 6 tháng đến 2 năm tù giữa các địa phương đối với cùng một tính chất vụ án.

Thứ tư, có khoảng 15,3% trường hợp ranh giới giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt bị nhận định nhầm lẫn do cơ quan tiến hành tố tụng chưa phân định rõ thời điểm bắt đầu thực hiện hành vi khách quan liền kề với hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng nhận thức chưa thống nhất nêu trên xuất phát từ việc thiếu vắng các văn bản quy phạm giải thích chi tiết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kể từ sau Thông tư và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986. Định nghĩa tại Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn mang tính khái quát, chưa chỉ rõ dấu hiệu bắt đầu thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm.

Khi đối chiếu với pháp luật quốc tế, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định rất nhân đạo và rành mạch tại Điều 67 khi khống chế mức phạt tù cho tội chưa đạt không quá 3/4 mức hình phạt của tội phạm hoàn thành, đồng thời tuyệt đối không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân cho hành vi phạm tội chưa đạt. Ngược lại, Điều 52 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 vẫn cho phép áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân đối với trường hợp phạm tội chưa đạt đặc biệt nghiêm trọng. Điều này đòi hỏi pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện theo hướng phân hóa sâu sắc hơn trách nhiệm hình sự.

Thực trạng cơ cấu và mức độ phân hóa xử lý hành vi phạm tội chưa đạt qua khảo sát hồ sơ tư pháp giai đoạn 2005 - 2009 được minh họa qua bảng dữ liệu tổng hợp sau:

Nhóm tội danh khảo sát Tỷ lệ vụ án phạm tội chưa đạt (%) Tỷ lệ chưa đạt chưa hoàn thành (%) Tỷ lệ áp dụng mức án dưới 3/4 khung hình phạt (%)
Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe 58,4% 61,2% 88,5%
Nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu 31,2% 71,5% 94,2%
Nhóm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự 10,4% 60,8% 85,0%

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn xét xử, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi:

  1. Sửa đổi, hoàn thiện quy phạm định nghĩa tại Điều 18 Bộ luật Hình sự: Quốc hội cần bổ sung cụm từ "đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm" vào nội dung điều luật, nhằm phân định tuyệt đối với hành vi tạo điều kiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phấn đấu đạt mục tiêu loại bỏ 100% sai sót định tội danh trong nhiệm kỳ lập pháp giai đoạn 2011 - 2015.

  2. Cải cách chính sách hình phạt tại Điều 52 Bộ luật Hình sự: Nhà làm luật cần quy định dứt khoát không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân đối với mọi trường hợp phạm tội chưa đạt, ấn định mức hình phạt tù có thời hạn tối đa không quá 3/4 mức phạt tù đối với người đã thành niên và không quá 1/2 mức phạt tù đối với người chưa thành niên, hướng tới nâng tỷ lệ cá thể hóa hình phạt công bằng lên 98% từ năm 2012.

  3. Ban hành Nghị quyết hướng dẫn chuyên đề của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Cơ quan xét xử cao nhất cần khẩn trương ban hành Nghị quyết mới hướng dẫn áp dụng thống nhất chế định phạm tội chưa đạt, làm rõ tiêu chí phân biệt giữa phạm tội chưa đạt đã hoàn thành với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, hoàn thành triển khai trong vòng 12 tháng kể từ khi thông qua chủ trương.

  4. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tư pháp: Học viện Tư pháp phối hợp cùng Tòa án nhân dân tối cao xây dựng hệ thống 15 án lệ chuẩn mực và sổ tay thẩm phán về định tội danh các tội phạm chưa hoàn thành, tổ chức 24 khóa tập huấn chuyên sâu cho khoảng 2.500 Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên trên cả nước trong giai đoạn 2011 - 2013.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và lý luận sâu rộng cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tại 63 tỉnh, thành phố: Cung cấp phương pháp định lượng hình phạt chuẩn xác theo Điều 52, giúp xử lý chuẩn xác 100% các vụ án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm có tình tiết phạm tội chưa đạt phức tạp.

  2. Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng: Nắm vững bộ tiêu chí đánh giá chứng cứ để phân biệt giữa ý định phạm tội, chuẩn bị phạm tội và toan phạm tội, góp phần giảm tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung xuống dưới mức 1,5%.

  3. Luật sư và người bào chữa: Khai thác hệ thống 4 luận cứ khoa học về phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và yếu tố nguyên nhân khách quan để xây dựng phương án bào chữa tối ưu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong các phiên tòa tranh tụng.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên luật tại hơn 20 cơ sở đào tạo chuyên ngành: Sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị với hơn 80 danh mục tài liệu nghiên cứu chuyên khảo và hệ thống bảng biểu thống kê thực chứng.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Phạm tội chưa đạt khác với chuẩn bị phạm tội ở những điểm cốt lõi nào?

Chuẩn bị phạm tội là hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo điều kiện cần thiết khác và người thực hiện chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng theo Điều 17 Bộ luật Hình sự. Ngược lại, phạm tội chưa đạt là khi chủ thể đã bắt tay thực hiện hành vi khách quan của tội phạm nhưng bị dừng lại do nguyên nhân ngoài ý muốn và phải chịu trách nhiệm hình sự trong 100% các trường hợp theo Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Câu 2: Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành có được miễn trách nhiệm hình sự theo diện tự ý nửa chừng chấm dứt không?

Hoàn toàn không. Trong trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, người phạm tội đã thực hiện đầy đủ hành vi mà họ cho là đủ để gây ra hậu quả (ví dụ như đã chém nhiều nhát rồi bỏ đi vì nghĩ nạn nhân đã chết), việc hậu quả không xảy ra là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn chiếm 100% (được cấp cứu kịp thời). Do đó, hành vi này không đáp ứng điều kiện tự nguyện từ bỏ của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt.

Câu 3: Mức hình phạt tù tối đa áp dụng cho trường hợp phạm tội chưa đạt được tính như thế nào?

Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999, mức hình phạt tù có thời hạn đối với phạm tội chưa đạt không được vượt quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù mà điều luật quy định đối với tội phạm hoàn thành. Trường hợp điều luật có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì chỉ áp dụng các mức phạt này trong tình huống đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù thực tiễn xét xử chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 1,8%.

Câu 4: Sử dụng súng không có đạn hoặc thuốc độc giả để giết người có cấu thành tội phạm chưa đạt không?

Hành vi này thuộc dạng phạm tội chưa đạt vô hiệu về phương tiện. Mặc dù công cụ sử dụng không có khả năng gây ra hậu quả chết người trên thực tế, nhưng về mặt chủ quan, người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp 100% và đã thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng người khác. Do đó, người thực hiện vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Câu 5: Pháp luật hình sự Liên bang Nga và Việt Nam có điểm gì khác nhau nổi bật về quyết định hình phạt cho tội chưa đạt?

Khác biệt nổi bật nhất nằm ở tính nhân đạo hóa hình phạt: Khoản 4 Điều 67 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996 tuyệt đối cấm tuyên phạt hình phạt tử hình và tù chung thân đối với trường hợp phạm tội chưa đạt (tỷ lệ áp dụng là 0%). Trong khi đó, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 vẫn duy trì khả năng áp dụng hai loại hình phạt nghiêm khắc này đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định phạm tội chưa đạt, làm sáng tỏ bản chất xã hội - pháp lý trong mối liên hệ mật thiết với cấu thành tội phạm và lỗi cố ý trực tiếp.
  • Khảo sát thực chứng 450 bản án và quyết định giám đốc thẩm giai đoạn 2005 - 2009, phát hiện chính xác 3 bất cập then chốt trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp.
  • Cung cấp cơ sở so sánh luật học chuyên sâu với 4 quốc gia tiên tiến (Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức), đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị.
  • Kiến nghị lộ trình hoàn thiện 4 giải pháp lập pháp cụ thể, trọng tâm là sửa đổi Điều 18 và bãi bỏ án tử hình, tù chung thân đối với tội chưa đạt tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo thực tiễn và lý luận chuẩn mực cho hơn 2.500 cán bộ tư pháp và cộng đồng nghiên cứu luật học trên toàn quốc.

Công trình tạo nền tảng vững chắc phục vụ yêu cầu cải cách tư pháp và sửa đổi toàn diện Bộ luật Hình sự Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015. Các cơ quan tiến hành tố tụng, giới luật gia và các cơ sở đào tạo luật học cần đẩy mạnh việc tiếp cận, vận dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm nâng cao chất lượng xét xử và bảo vệ nền công lý pháp quyền.