Chương 1: Những vấn dé lý luận về giải thé doanh nghiệp và pháp luật về giải thể doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hà Tĩnh Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải thé doanh nghiệp tại tinh Ha Tinh CHUONG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIẢI THE DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VE GIẢI THE DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về giải thể doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm của giải thể doanh nghiệp Mỗi thực thê tồn tại trong xã hội đều mang một sứ mệnh khác nhau nhưng kết quả chung nhất của các thực thé xã hội là mang đến quy luật: “Sinh ra, lớn lên, phát triển và biến đổi hình thành nên chu trình cơ bản của tự nhiên”!. Doanh nghiệp cũng nằm trong quy luật đó, chặng đường hình thành và phát triển của doanh nghiệp luôn trải qua những giai đoạn khác nhau và thông thường gồm quá trình sinh ra, phát triển, mở rộng, suy thoái và cuối cùng là diệt vong.
Trong đó, diệt vong là giai đoạn mà việc kinh doanh không thể tiếp tục thực hiện, doanh nghiệp đã di tới sự thoái trào buộc chủ thé doanh nghiệp phải cham dứt hoạt động của doanh nghiệp. Đó cũng là lúc doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại của mình trên thị trường, khi nhận thấy mình không thê thích ứng được với các yêu cầu của thị trường hoặc khi chủ sở hữu doanh nghiệp không còn nhu cầu tiếp tục kinh doanh. Gia nhập và rút khỏi thị trường là một quá trình tất yếu của doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường, đặc biệt là trong tình trạng khủng hoảng kinh tế sâu và rộng trên toàn cầu trong hai năm vừa qua do ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch Covid - 19. Hiện nay, có nhiều cách thức để doanh nghiệp rút khỏi thị trường khi không còn nhu cầu kinh doanh hoặc không đủ khả năng dé tồn tại và hoạt động và một trong số đó là giải thể doanh nghiệp.
Giải thé doanh nghiệp là một cách thức “khai 0”, chấm dứt sự tôn tại của doanh nghiệp rất thông dụng và hiệu quả, góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp rút khỏi thi trường một cách thuận lợi, có trật tự, bảo dam quyền lợi của các cá nhân và tổ chức có liên quan. Về mặt ngữ nghĩa, giải thể trong tiếng anh được đề cập đến với nhiều thuật ngữ như “dissolution”, “disband” hay “break up’? dé chỉ việc cham đứt sự tồn tại của doanh nghiệp, trong đó thông dụng nhất và được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp lý là thuật ngữ “dissolution”. Theo từ điển Tiếng Việt, giải thé có nghĩa là không còn hoặc làm cho không đủ điêu kiện tôn tại như một tô chức nữa, các thành ! Matsushita Konosuke (2020), “Cách nhìn về sứ mệnh xã hội của một doanh nghiệp”, truy cập ngày 10/10/2023 tại địa chỉ: https://www.com/pulse/s%E1%BB%A9-m%E1%BB%87nh-x%C3%A3- h%E1%BB%99i-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-doanh-nghi%E1%BB%87p-han-phung ? Bùi Phụng (1988), Từ điển Việt - Anh, Nha xuất bản Thế giới, Ha Nội. Như vậy, có thể hiểu một doanh nghiệp không còn duy trì sự tồn tại, không còn thực hiện các hoạt động kinh doanh như trước nữa được gọi là giải thê doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, dưới góc độ khoa học pháp lý, Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) định nghĩa về giải thé doanh nghiệp như sau: “Giải thể doanh nghiệp là thủ tục chấm dứt sự tôn tại của doanh nghiệp, với tu cách là một chủ thể kinh doanh bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp để trả nợ cho các chủ no’. Có thể thấy, khái niệm “giải thể doanh nghiệp” chưa được văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể mà chỉ được định nghĩa, giải thích trong các tài liệu nghiên cứu, giáo trình luật học. Theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Hợp Toàn thi “Giải thể doanh nghiệp được nhìn nhận là việc một doanh nghiệp cham dứt hoạt động kinh doanh, không tiếp tục tôn tại trên thị trường với tu cách là một chu thể kinh doanh”Š. Còn theo Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam của Viện Dai học Mở Hà Nội, thì giải thé doanh nghiệp là “một trong những thủ tục pháp lý dan đến chấm dứt sự tôn tại của doanh nghiệp.
Hậu quả của giải thể là doanh nghiệp sẽ bị xóa tên trong số đăng kí kinh doanh”5. Hay theo Giáo trình Luật Thương mại của Đại học Luật Hà Nội thì “Giải thé doanh nghiệp là quả trình cham dứt sự tôn tại của doanh nghiệp trong diéu kiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán hoặc bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp. Giải thể là thủ tục để doanh nghiệp rút khỏi thị trường một cách hợp pháp”. Như vậy, có khá nhiều định nghĩa về giải thể doanh nghiệp.
Tuy nhiên, dù tiếp cận giải thể doanh nghiệp ở phương diện nảo thì các quan điểm đó cũng có sự tương đồng nhất định. Theo đó, giải thể doanh nghiệp không phải là một sự kiện pháp lý mà là một quá trình và quá trình này phải tuân theo các quy định của pháp luậtŠ. Giải thể doanh nghiệp trước hết là quyền của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu 3 Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất ban Da Nẵng, Hà Nội - Da Nẵng. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2008), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa - Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội.
5 Nguyễn Hợp Toàn (2012), Giáo trình Pháp luật Kinh tế, Nhà xuất bản Dai học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 6 Vién Đại học Mở Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội. T Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập 1, Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội. 8 Nguyễn Văn Cương (2012), “M6t số suy nghĩ về vai trò của Nhà nước trước hiện tượng doanh nghiệp rút khỏi thị trường ở nước ta hiện nay”, KỶ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội.
doanh nghiệp bởi họ là người tự nguyện góp vốn thành lập nên họ cũng là người có quyền tự thỏa thuận việc giải thể doanh nghiệp. Các chủ sở hữu doanh nghiệp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất và đi đến quyết định chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp và việc giải thể doanh nghiệp phải tuân theo một trình tự pháp luật quy định. Ngoài ra, doanh nghiệp còn bị giải thể trong một số trường hợp do pháp luật quy định, trường hợp này cơ quan Nhà nước sẽ yêu cầu chủ sở hữu doanh nghiệp phải ra quyết định giải thé. Dù giải thé theo trường hợp nào thì một trong những điều kiện tiên quyết mà pháp luật quy định khi giải thể đó là doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản cũng như những nghĩa vụ hợp đồng khác với các bên có liên quan.
Tóm lại về bản chất, giải thể doanh nghiệp chính là một sự thỏa thuận giữa chủ doanh nghiệp hoặc là hành vi pháp lý đơn phương trước pháp luật của nhà nước dé chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, việc châm dứt này phụ thuộc vào ý chí của bản thân doanh nghiệp hoặc ý chí của cơ quan có thâm quyên. Từ những phân tích trên, giải thể doanh nghiệp có thê được hiểu là quá trình doanh nghiệp thực hiện các thủ tục nhằm chấm dứt sự tồn tại của mình với tư cách là một chủ thé kinh doanh thông qua các hoạt động kinh tế (thanh lý tài sản, thanh toán nợ) và hoạt động pháp lý (thi tục hành chính để “xóa tên doanh nghiệp” tại cơ quan đăng kí kinh doanh) đề cham đứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan để doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Dé hiểu rõ hơn về quá trình giải thể doanh nghiệp cũng như phân biệt được giải thể doanh nghiệp với các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp, quá trình giải thé doanh nghiệp bao gồm một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, giải thể doanh nghiệp là một thủ tục mang tính chất hành chỉnh, đây là điểm khác biệt cơ bản so với chế định phá sản doanh nghiệp. Việc giải thể doanh nghiệp do chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp tiễn hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Đề chấm dứt sự tồn tại, doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều thủ tục, có thể kể đến như thủ tục cham dứt hiệu lực mã số thuế tại cơ quan thuế; thủ tục chốt số bảo hiểm xã hội cho người lao động (nếu có sử dụng lao động) tại cơ quan Bảo hiểm; thủ tục đề nghị xác nhận không nợ thuế xuất nhập khâu gửi Tổng cục Hải quan (nếu có hoạt động xuất nhập khẩu); thủ tục hủy con dấu và giấy chứng nhận mẫu của doanh nghiệp tại cơ quan Công an (đối với những doanh nghiệp sử dụng dấu do cơ quan Công an cấp); thủ tục nộp hồ sơ giải tại Phòng Đăng kí kinh doanh — Sở Kế hoạch và Đầu tư. Đây đều là những thủ tục được tiến hành tại cơ quan hành chính và do các cơ quan hành chính thực hiện. Thứ hai, giải thể doanh nghiệp dân đến việc chém dứt sự tôn tại của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp tiến hành thủ tục giải thé thì mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ phải chấm dứt, doanh nghiệp phải tiến hành thanh lý các tài sản, thực hiện việc thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
Hậu quả của việc giải thé đó là doanh nghiệp sẽ chấm dứt sự tồn tại, tinh trạng của doanh nghiệp trên Cơ sở dit liệu quốc gia về đăng kí doanh nghiệp sẽ chuyên từ trạng thái “dang hoạt động” sang “đã giải thể”, chính thức bị “xóa số” trên thị trường. Thứ ba, giải thể doanh nghiệp mang tính chất tự nguyện hoặc bắt buộc. Giải thé doanh nghiệp trước hết là quyền của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp. Đa phần, doanh nghiệp giải thể khi chủ đầu tư không có nhu cầu tiếp tục kinh doanh hoặc kinh doanh thua lỗ, mâu thuẫn nội bộ doanh nghiệp mà không thể giải quyết.
Đây là trường hợp giải thé hoàn toàn mang tính chất tự nguyện, theo ý chí của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các trường hợp doanh nghiệp bắt buộc phải giải thể, cụ thể là trong những trường hợp doanh nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện để tiếp tục hoạt động hay vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thành lập và hoạt động.