Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI QUY LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ NỘI QUY LAO ĐỘNG 1. Một số vấn đề lý luận về nội quy lao động 1. Khái niệm nội quy lao động Trước khi tìm hiểu khái niệm về NQLĐ, cần phải hiểu thế nào là nội quy? Nội quy là một khái niệm đã được hình thành từ khá lâu trong tiến trình lịch sử với những quan điểm khác nhau. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “nội quy” được hiểu là “quy chế, quy định trong nội bộ cơ quan tổ chức, doanh nghiệp, địa điểm công cộng có hiệu lực bắt buộc đối với mọi người khi hiện diện, giao dịch tại địa điểm đó” [44, tr.
Theo đó, nội quy được hiểu là các quy định được ban hành trong nội bộ tổ chức, tập thể mang tính chất bắt buộc đối với các hành vi ứng xử của mọi người khi hiện diện trong tập thể đó. Còn từ điển Tiếng Việt thì giải thích “nội quy” là “những quy định để đảm bảo trật tự và kỷ luật trong một tập thể, một cơ quan” [40, tr. Theo định nghĩa này, nội quy cũng được hiểu là những quy định, quy tắc chung mang tính bắt buộc đối với hành vi của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động chung của một tập thể hoặc một cộng đồng nhằm đảm bảo trật tự, kỷ luật của tổ chức đó. Vì vậy, nội quy còn được hiểu là phương tiện để thống nhất hoạt động của các cá nhân với nhau nhằm đạt được những mục đích chung nhất định của tập thể.
Như vậy, tựu chung lại “nội quy” là tổng thể những quy tắc, quy định mang tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong tổ chức để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức đó nhằm đạt được những mục đích chung. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tùy theo tính chất của từng nhóm quan hệ xã hội cũng như yêu cầu, mục đích hoạt động mà có nhiều loại nội quy khác nhau; trong đó, NQLĐ là một dạng nội quy phổ biến bởi lao động là hoạt động chủ yếu và đặc trưng của loài người. Như chúng ta đã biết, lao động là “hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội” [40, tr. Lao động của con người là những hoạt động cụ thể có mục đích, được thực hiện theo một quy trình nhất định nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần theo mục tiêu đặt ra trước đó.
Trong cuộc sống, do nhiều lý do khác nhau như yêu cầu, điều kiện của quá trình lao động, mục đích, lợi ích, thu nhập.khiến con người không thể thực hiện các hoạt động một cách đơn lẻ mà thay vào đó con người luôn có xu hướng liên kết, tụ hợp lại để cùng thực hiện một công việc. Chính việc nhiều người cùng lao động trong một quy trình nhất định đã đòi hỏi các cá nhân trong tập thể đó cần phải có sự phối hợp, hoạt động nhịp nhàng với nhau. Việc đảm bảo hoạt động của tập thể được diễn ra hiệu quả trong mối quan hệ hài hòa của các cá nhân với nhau, của các cá nhân với tập thể đã dẫn tới một yêu cầu khách quan – đó là sự quản lý. Các-Mác đã nhận định: Hình thức lao động mà trong đó “nhiều người làm việc bên cạnh nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên kết với nhau thì lao động của họ mang tính hiệp tác” [6].
Rõ ràng, mọi sự liên kết của một tập thể đều mang tính hợp tác. Sự hợp tác này tồn tại mọi lúc, mọi nơi. Để sự hợp tác này đạt được hiệu quả, mục đích chung thì tất yếu cần có sự quản lý, như Các- Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít, nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Theo tiến trình lịch sử, sự quản lý, điều khiển của người này đối với 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người khác không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại, mà đã xuất hiện từ rất sớm.
Ngay từ chế độ Cộng sản nguyên thủy, con người đã biết tập hợp nhau lại thành các nhóm để cùng chung sống. Sự tập hợp thành các nhóm này đã tạo lên sự gắn kết, sức mạnh tập thể để con người có thể cùng nhau chống chọi với thiên nhiên và kẻ thù để sinh tồn. Để duy trì hoạt động chung, mỗi cá nhân phải tuân theo những quy tắc, luật lệ nhất định đã được đặt ra và phải chịu sự chỉ huy của một người hoặc một nhóm người đứng đầu. Khi xã hội bắt đầu xuất hiện sự phân công lao động thì sự quản lý trở thành một yếu tố không thể thiếu để duy trì trật tự lao động và trật tự xã hội.
Sự quản lý trong lao động tại thời kỳ này xuất phát từ quan hệ sản xuất thống trị mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định. Tại thời kỳ chiếm hữu nô lệ, quyền lực của chủ nô là tuyệt đối. Mọi thành quả lao động của nô lệ đều thuộc sở hữu của chủ nô. Vì thế, các quy tắc, nội quy trong hoạt động lao động đều do giới chủ nô xây dựng theo ý chí của mình.
Đến chế độ phong kiến, nông nô là lực lượng sản xuất chủ yếu để duy trì sự tồn tại của chính quyền phong kiến, song họ vẫn phải chịu đời sống cực khổ, bị áp bức bóc lột nặng nề. Tổ chức lao động thời kỳ này đã dựa vào chế độ kỷ luật roi vọt và cưỡng bức quần chúng nhân dân. Hay tại chế độ tư bản chủ nghĩa, do được xây dựng trên nền tảng của quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vì thế xét về bản chất đây vẫn là một xã hội bóc lột nhưng ở mức độ tiến bộ và tinh vi hơn đó là bóc lột về giá trị thặng dư. Do đó, tổ chức lao động ở thời kỳ này chủ yếu dựa vào cưỡng bức kinh tế đối với công nhân làm thuê.
Khi xã hội loài người bước sang hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng chính là thời điểm hình thành và phát triển một chế độ quản lý lao động hoàn toàn mới. Tính chất của quản lý lao động thời kỳ này được thể hiện bởi mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên tinh thần tự nguyện, tự giác của NLĐ. Lúc này, NLĐ đã thoát khỏi chế độ lao động hà khắc, bóc lột thô bạo mà thay 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào đó là một chế độ làm việc công bằng, có trật tự, kỷ cương trên cơ sở sức lao động tự nguyện. Lênin đã viết: “Tổ chức lao động xã hội chủ nghĩa thì dựa vào và ngày càng dựa vào kỷ luật tự nguyện tự giác của chính ngay những người lao động” [43, tr.
Như vậy, có thể thấy rằng quản lý lao động trong mỗi thời kỳ, mỗi mối quan hệ xã hội khác nhau thì có những tính chất đặc thù khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung về quản lý lao động trong mỗi thời kỳ đều là sự điều chỉnh, tác động của chủ thể quản lý lên các đối tượng khác trong quan hệ lao động nhằm đảm bảo các đối tượng và khách thể này phải tuân thủ khi tham gia vào quan hệ lao động để đảm bảo sự ổn định, hiệu quả và năng suất chất lượng của công việc. Trong quá trình lao động, quyền quản lý lao động của NSDLĐ xuất phát từ vai trò là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất của NSDLĐ. Để đảm bảo lợi ích của NSDLĐ cũng như trật tự lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh nói chung, NSDLĐ có quyền ban hành ra những nguyên tắc, quy tắc ứng xử đối với những hành vi của NLĐ khi tham gia vào quan hệ lao động.
Trên cơ sở đó, NLĐ có trách nhiệm phải tuân thủ những quy định này của NSDLĐ. Các quy tắc này được thể hiện trong văn bản pháp lý nhất định, đó chính là nội quy lao động. Theo Từ điển Luật học nội quy lao động là “văn bản quy định việc tuân theo thời gian, công nghệ, trật tự trong đơn vị lao động và sự điều hành công việc của người sử dụng lao động…” [45]. Giáo trình Luật Lao động – trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “Nội quy lao động là văn bản quy định do người sử dụng lao động ban hành, gồm những quy tắc xử sự chung và xử sự riêng biệt cho từng loại lao động hoặc khu vực sản xuất; các hành vi vi phạm kỷ luật lao động và các biện pháp xử lý đối với những người có hành vi vi phạm kỷ luật lao động” [41].
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, dưới góc độ pháp lý với tư cách là chế định của luật lao động, khái niệm nội quy lao động có thể được hiểu như sau: Nội quy lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành dựa trên các quy định của pháp luật, quy định về các quy tắc xử sự mà người lao động phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động, các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, cách thức xử lý và trách nhiệm vật chất. Đặc điểm nội quy lao động Thứ nhất, nội quy lao động do NSDLĐ ban hành thể hiện ý chí của NSDLĐ thông qua việc quy định các nghĩa vụ mà NLĐ được thực hiện. Nội quy lao động bản chất là công cụ thể hiện sự quản lý lao động của NSDLĐ. Sự quản lý lao động của NSDLĐ xuất phát từ vai trò là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất của NSDLĐ.
Người sử dụng lao động có quyền kiểm tra, giám sát, quản lý khối lượng tài sản của mình. Nếu như thỏa ước lao động tập thể ra đời dựa trên sự thỏa thuận giữa tập thể NLĐ và NSDLĐ; hợp đồng lao động được ký kết với sự tự nguyện và thống nhất ý chí giữa các bên thì NQLĐ do NSDLĐ soạn thảo và ban hành – thể hiện ý chí, quan điểm của NSDLĐ trong quá trình vận hành, quản lý doanh nghiệp, tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo NQLĐ, NSDLĐ có tham khảo ý kiến của tập thể NLĐ. Trao quyền tự chủ trong việc soạn thảo, ban hành NQLĐ chính là sự thừa nhận của Nhà nước đối với quyền tự chủ trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lao động của NSDLĐ.