Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn quản lý nhân sự tại Việt Nam cho thấy sự đóng góp quan trọng của lực lượng lao động trong các cơ quan nhà nước đối với công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo các báo cáo tổng kết thi hành pháp luật lao động, tỷ lệ người lao động giao kết hợp đồng lao động tại các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đạt mức trung bình khoảng 96,6%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt tới 99,2%. Trong khi đó, tại hàng ngàn cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập, bên cạnh đội ngũ công chức và viên chức, có hơn 100.000 lao động đang làm việc theo chế độ hợp đồng lao động. Tuy nhiên, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động tuyển dụng đối với lực lượng lao động này còn bộc lộ nhiều khoảng trống, thiếu tính đồng bộ so với hệ thống văn bản quản lý công chức, viên chức.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự phân định chưa rõ ràng về mặt lý luận và thực tiễn giữa hoạt động tuyển dụng công chức, viên chức theo pháp luật hành chính và tuyển dụng lao động hợp đồng theo pháp luật lao động. Tình trạng ký hợp đồng lao động để làm công việc chuyên môn diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương, gây khó khăn cho công tác quản lý biên chế và làm suy giảm hiệu lực công vụ. Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tuyển dụng lao động trong cơ quan nhà nước, đối sánh cơ chế tuyển dụng giữa 3 nhóm đối tượng (công chức, viên chức, lao động hợp đồng), đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện Nghị định 68/2000/NĐ-CP và Bộ luật Lao động 2012, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam trong tiến trình lập pháp từ Sắc lệnh 29-SL năm 1947, Sắc lệnh 76/SL năm 1950, Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi các năm 2002, 2006, 2007) cho đến Bộ luật Lao động 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hướng tới mục tiêu giảm thiểu tới 85% các sai phạm tuyển dụng sai thẩm quyền, nâng cao hơn 30% hiệu quả phân bổ ngân sách công và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người lao động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management) và Lý thuyết Quan hệ lao động kết hợp nguyên tắc tự do khế ước theo tiêu chuẩn quốc tế. Lý thuyết Quản trị công mới nhấn mạnh việc áp dụng các nguyên tắc thị trường, tính linh hoạt và hiệu quả chi phí vào khu vực công, làm cơ sở phân định giữa hoạt động thực thi quyền lực công vụ và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ hành chính. Song song với đó, lý thuyết quan hệ lao động làm sáng tỏ bản chất của việc mua bán sức lao động thông qua hợp đồng lao động, nơi người lao động chịu sự phụ thuộc pháp lý vào người sử dụng lao động nhưng được bảo vệ quyền lợi thông qua các quy phạm pháp luật lao động chuẩn mực.

Mô hình nghiên cứu triển khai đối sánh giữa mô hình công vụ chức nghiệp truyền thống và mô hình công vụ việc làm hiện đại. Các khái niệm nền tảng bao gồm:

  1. Tuyển dụng lao động: Quá trình tìm kiếm, tuyển chọn người mới vào làm việc chính thức cho tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu nhân sự trong từng giai đoạn phát triển.
  2. Hợp đồng lao động: Sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo Điều 15 Bộ luật Lao động 2012.
  3. Công chức: Công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008.
  4. Viên chức: Công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương sự nghiệp theo Điều 2 Luật Viên chức 2010.
  5. Lao động hợp đồng trong cơ quan nhà nước: Người thực hiện 6 nhóm công việc hỗ trợ, phục vụ theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp dữ liệu và phương pháp so sánh luật học chuyên sâu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hơn 15 văn bản quy phạm pháp luật trọng yếu và các báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Bộ luật Lao động. Nguồn dữ liệu thực chứng được tổng hợp từ cỡ mẫu gồm 120 hồ sơ tuyển dụng và hợp đồng lao động tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh và cấp huyện trong giai đoạn 2000 - 2014.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để lựa chọn các cơ quan hành chính điển hình ở cả trung ương và địa phương, bảo đảm tính đại diện cho các trường hợp áp dụng Nghị định 68/2000/NĐ-CP và ký hợp đồng chuyên môn. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp đối chiếu án lệ và văn bản chỉ đạo thực tế là nhằm chỉ rõ những xung đột, bất cập giữa luật chung (Bộ luật Lao động) và luật chuyên ngành (Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức). Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt quá trình chuyển giao lập pháp từ Bộ luật Lao động 1994 đến khi Bộ luật Lao động 2012 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013, kết hợp học hỏi kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ và Singapore.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích thực tiễn đã chỉ ra 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, tồn tại sự chồng chéo và lạm dụng nghiêm trọng trong việc ký hợp đồng lao động làm công việc chuyên môn. Khoảng 40% cơ quan, đơn vị cấp quận, huyện được khảo sát từng tự ý ký hợp đồng lao động để giao thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của công chức, viên chức khi khối lượng công việc tăng cao. Tình trạng này vi phạm nghiêm trọng Điều 5 Nghị định 68/2000/NĐ-CP, dẫn đến tình trạng vượt biên chế và làm phát sinh chi phí ngân sách sai quy định.

Thứ hai, có sự chênh lệch rõ rệt về quy trình và tính minh bạch giữa các hình thức tuyển dụng nhân sự trong khu vực công. Trong khi tuyển dụng công chức, viên chức trải qua quy trình 4 bước chặt chẽ (xác định nhu cầu, thông báo công khai, tổ chức thi tuyển/xét tuyển, ra quyết định tuyển dụng hoặc ký hợp đồng làm việc từ 12 tháng đến 36 tháng), thì tuyển dụng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP diễn ra đơn giản, thiếu kiểm soát. Tỷ lệ cơ quan đăng thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng công khai trên các phương tiện truyền thông chỉ đạt dưới 20%, tạo kẽ hở cho tình trạng tuyển dụng người thân quen.

Thứ ba, bất cập về chế độ tiền lương và bảo đảm quyền lợi người lao động. Dù cùng ký hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động, lao động hợp đồng trong cơ quan nhà nước bị áp đặt mức lương cứng nhắc theo bảng lương nhân viên thừa hành ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP. Khoảng 75% lao động hợp đồng cảm thấy quyền tự do thỏa thuận về lương bổng và phúc lợi bị triệt tiêu hoàn toàn so với lao động trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (nơi có tỷ lệ ký hợp đồng đạt 93,9% đến 96,2%).

Thứ tư, độ trễ pháp lý kéo dài của các văn bản dưới luật. Trong khi Bộ luật Lao động đã trải qua 3 lần sửa đổi (năm 2002, 2006, 2007 sửa đổi tới 8/17 điều của chương Hợp đồng lao động) và được thay thế bằng Bộ luật Lao động 2012, thì Nghị định 68/2000/NĐ-CP vẫn giữ nguyên sau hơn 14 năm thi hành mà không có sự điều chỉnh, dẫn đến hàng loạt vướng mắc về thẩm quyền và trách nhiệm bồi thường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý biên chế hành chính còn mang nặng tính kế hoạch hóa, chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường. Áp lực biên chế tinh giản khiến các cơ quan hành chính phải lách luật bằng cách ký hợp đồng ngắn hạn cho các vị trí chuyên môn. Khi so sánh với công trình của các tác giả cùng thời kỳ, nghiên cứu này làm rõ hơn sự khác biệt bản chất giữa hợp đồng làm việc của viên chức và hợp đồng lao động thông thường trong cơ quan nhà nước.

Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng so sánh đa tiêu chí giữa công chức, viên chức và người lao động hợp đồng (về cơ sở pháp lý, nguồn trả lương, phương thức tuyển dụng, hình thức hợp đồng). Đồng thời, biểu đồ phân tích tỷ lệ vi phạm ký hợp đồng chuyên môn tại các địa phương (điển hình như vụ việc được xử lý qua Công văn 13/UBND-NC ngày 05/01/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình) minh họa rõ nét mức độ lãng phí tài chính và nguy cơ tiêu cực nảy sinh từ việc phân cấp quản lý lỏng lẻo. Kinh nghiệm từ chế độ công vụ dựa trên năng lực (Merit System) của Hoa Kỳ và Singapore cho thấy việc thương mại hóa, thuê ngoài dịch vụ (outsourcing) các công việc hỗ trợ là xu thế tất yếu nhằm giảm tải gánh nặng cho bộ máy công quyền.

Đề xuất và khuyến nghị

Để khắc phục triệt để các vướng mắc lý luận và thực tiễn, hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật tuyển dụng lao động trong cơ quan nhà nước cần được triển khai đồng bộ qua 4 giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, sửa đổi và ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 68/2000/NĐ-CP trong giai đoạn 2015 - 2018. Văn bản mới cần chuẩn hóa danh mục 6 nhóm công việc dịch vụ, hỗ trợ, quy định rõ điều kiện chuyên môn nghề nghiệp (như bằng lái xe, chứng chỉ kỹ thuật) và dẫn chiếu trực tiếp đến các chế định của Bộ luật Lao động 2012. Chủ thể thực hiện: Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chính phủ. Mục tiêu: Chuẩn hóa 100% tiêu chuẩn tuyển dụng nhân viên hợp đồng hỗ trợ.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện đề án vị trí việc làm tại 100% cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trước năm 2020. Bản mô tả công việc phải phân định ranh giới tuyệt đối giữa nhiệm vụ thực thi quyền lực công và công việc thừa hành, hỗ trợ. Chủ thể thực hiện: Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Mục tiêu: Loại bỏ hoàn toàn tình trạng tuyển dụng hợp đồng chuyên môn ngoài chỉ tiêu biên chế.

Thứ ba, tổng rà soát, thanh tra và chấm dứt các hợp đồng lao động làm công việc chuyên môn sai quy định. Yêu cầu chuyển giao các nhân sự đủ điều kiện tham gia các kỳ thi tuyển, xét tuyển công chức, viên chức công khai theo đúng Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010; kiên quyết chấm dứt hợp đồng đối với các trường hợp không đủ tiêu chuẩn. Chủ thể thực hiện: Thanh tra Bộ Nội vụ và Sở Nội vụ các địa phương. Mục tiêu: Giảm 90% số lượng đơn thư khiếu nại, phản ánh về tiêu cực tuyển dụng công vụ.

Thứ tư, cải cách chính sách tiền lương và áp dụng cơ chế đấu thầu dịch vụ công ích. Cho phép các cơ quan nhà nước thực hiện hình thức thuê khoán trọn gói dịch vụ bảo vệ, vệ sinh, bảo trì với các doanh nghiệp độc lập theo Luật Đấu thầu, đồng thời điều chỉnh thang bảng lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP theo hướng thỏa thuận linh hoạt. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nội vụ. Mục tiêu: Tăng thu nhập thực tế của người lao động thêm ít nhất 25% và tiết kiệm 15% chi phí vận hành công sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ và các Ban Tổ chức cán bộ sử dụng luận văn làm cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý lao động hợp đồng, siết chặt kỷ luật biên chế hành chính.
  2. Lãnh đạo cơ quan hành chính và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập: Tài liệu cung cấp hướng dẫn thực tế để xây dựng quy trình tuyển chọn minh bạch, phòng tránh các rủi ro pháp lý và sai phạm thẩm quyền khi ký kết hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về Luật Lao động, Luật Hành chính và Luật Kinh tế với hệ thống dữ liệu so sánh lập pháp sâu rộng từ năm 1947 đến 2014.
  4. Người lao động và ứng viên dự tuyển vào khu vực nhà nước: Giúp người lao động nhận diện rõ quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý, phân biệt rạch ròi giữa quyền lợi của công chức, viên chức và người lao động hợp đồng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi tham gia quan hệ lao động.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cơ quan nhà nước có được phép ký hợp đồng lao động để làm công việc chuyên môn của công chức không? Không. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức 2008 và Nghị định 68/2000/NĐ-CP, cơ quan nhà nước tuyệt đối không được ký hợp đồng lao động để thực hiện công việc chuyên môn. Vị trí chuyên môn bắt buộc phải thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển công chức vào biên chế. Mọi hợp đồng chuyên môn tự ý ký kết đều là hành vi trái thẩm quyền, như đã được chấn chỉnh nghiêm khắc tại Công văn 13/UBND-NC của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình.

  2. Sự khác nhau căn bản giữa hợp đồng làm việc của viên chức và hợp đồng lao động trong cơ quan nhà nước là gì? Hợp đồng làm việc được quy định tại Luật Viên chức 2010, áp dụng cho viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập với thời hạn từ 12 đến 36 tháng hoặc không xác định thời hạn, hưởng lương từ quỹ sự nghiệp. Trong khi đó, hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP áp dụng cho 6 vị trí hỗ trợ, phục vụ theo Bộ luật Lao động 2012 và hưởng lương theo thỏa thuận hoặc thang lương thừa hành.

  3. Nghị định 68/2000/NĐ-CP cho phép cơ quan hành chính nhà nước ký hợp đồng với những loại công việc nào? Nghị định 68/2000/NĐ-CP cho phép ký hợp đồng đối với 6 nhóm công việc cụ thể: sửa chữa, bảo trì hệ thống điện, nước, máy móc thiết bị; lái xe ô tô; bảo vệ cơ quan; vệ sinh môi trường công sở; trông giữ phương tiện đi lại; nấu ăn tập thể và tạp vụ chăm sóc cảnh quan môi trường cơ quan.

  4. Tại sao tuyển dụng lao động hợp đồng trong cơ quan nhà nước trước đây dễ nảy sinh tiêu cực và hiện tượng thân quen? Do pháp luật chưa quy định bắt buộc về hình thức thi tuyển cạnh tranh hay thông báo công khai đối với đối tượng lao động hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP. Quy trình xem xét hồ sơ và phỏng vấn mang tính nội bộ, thiếu cơ chế giám sát từ cơ quan quản lý cấp trên, dẫn đến nguy cơ lạm quyền và ưu ái người thân quen.

  5. Người lao động đã ký hợp đồng làm việc chuyên môn nhiều năm có được xét tuyển đặc cách vào công chức không? Không được chuyển thẳng tự động. Người lao động hợp đồng khi muốn trở thành công chức bắt buộc phải nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển và vượt qua kỳ thi tuyển hoặc xét tuyển công chức công khai theo Luật Cán bộ, công chức 2008 khi cơ quan có chỉ tiêu biên chế tuyển dụng, trừ các trường hợp tiếp nhận đặc biệt theo quy định riêng của Chính phủ.

Kết luận

  1. Luận văn đã phân định sâu sắc bản chất pháp lý giữa 3 nhóm nhân sự trong cơ quan nhà nước: công chức (biên chế nhà nước), viên chức (hợp đồng làm việc) và người lao động hợp đồng (Bộ luật Lao động kết hợp Nghị định 68/2000/NĐ-CP).
  2. Chỉ ra thực trạng lạm dụng ký hợp đồng chuyên môn tại khoảng 40% đơn vị cấp cơ sở và sự lạc hậu của Nghị định 68/2000/NĐ-CP sau 14 năm chưa được sửa đổi.
  3. Đóng góp hệ thống lý luận vững chắc kết hợp kinh nghiệm quốc tế từ Hoa Kỳ và Singapore để định hình cơ chế tuyển dụng công vụ dựa trên vị trí việc làm.
  4. Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp chiến lược thực thi trong giai đoạn 2015 - 2020 nhằm chấm dứt sai phạm, tối ưu hóa ngân sách và chuẩn hóa đội ngũ nhân sự hỗ trợ công vụ.
  5. Khẳng định vai trò tiên quyết của công tác tuyển dụng trong công cuộc cải cách hành chính quốc gia, hướng tới xây dựng một nền công vụ hiện đại, liêm chính và hiệu quả.