Chương 1. Những vấn đề lí luận về hoàn thiện pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong luật Lao động Việt Nam hiện nay Chương 2. Thực trạng pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong bộ Luật Lao động Việt Nam hiện nay Chương 3. Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật Lao động Việt Nam hiện nay Kết Luận.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NGƢỜI CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, KỸ THUẬT CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm ngƣời có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao 1. Lịch sử lập pháp về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Sau khi nước ta giành độc lập, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh chế độ còn non yếu lúc bấy giờ, trong đó quan trọng nhất là Hiến pháp năm 1946, đây là bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, trong đó quy định các thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó, có chế định về quyền lao động. Đây được coi là văn bản làm tiền đề cho tất cả các ngành Luật nước ta sau này nói chung và Luật lao động nói riêng.
Trong khoảng thời gian này đã có nhiều văn bản quy định về tuyển dụng, sử dụng lao động, tuy nhiên, chưa nói đến lao động là người có trình độ cao, đến năm 1994 khi Bộ luật Lao động ra đời thì người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mới lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật. - Thuật ngữ về người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Trước khi Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành, thì chưa có một thuật ngữ trong văn bản pháp luật về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, khi Bộ luật được ban hành thì thuật ngữ người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao lần đầu tiên được quy định tại Điều 129 và 130, tuy nhiên, Điều luật cũng không đưa ra một khái niệm nào cho nhóm người người này, mà chỉ quy định các quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng lao động. - Quan niệm về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Thực tế, đã có một số nghiên cứu nói về nhân lực, nhân tài, về người 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình độ cao, tri thức. Tuy nhiên, tiêu chí để xác định người thế nào thì được gọi là nhân tài, trí thức thì mỗi người đưa ra các quan niệm khác nhau, sau đây là một số quan niệm.
Quan niệm về nhân tài, theo nhà thơ Lê Đạt thì, “nhân tài là những người xuất sắc có khả năng bứt phá những đòi hỏi cụ thể và đa dạng của xã hội”. Theo Nguyễn Văn Hậu, trong Luận văn về “Một số giải pháp nhằm thu hút người có trình độ cao về làm việc tại tỉnh Khánh Hòa”.Tác giả đưa ra khái niệm cho nguồn nhân lực như sau. “Nguồn nhân lực là người lao động đang có việc làm và người lao động trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng chưa có việc làm”[37]. Quan điểm về trí thức, theo Từ điển Triết học thì, “Trí thức là tập đoàn người gồm những người làm nghề lao động trí óc”.
Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức”[26] [tr. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là người đó phải có trình độ cử nhân “Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức” nhưng điều này chưa đủ, mà “muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”. Có nghĩa rằng, học vấn đại học mới chỉ là điều kiện cần, quan trọng là phải sử dụng có hiệu quả tri thức trong đời sống xã hội, phục vụ dân sinh. Theo Nghị quyết số 27 - NQ/T.Ư "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đảng ta quan niệm rằng “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” trên là một số quan niệm về trí thức [27].
Theo Quyết định số 532 QĐ/TWĐTN ngày 04/3/2009 của Ban Bí thư 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung ương Đoàn thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện dự án Truyền thông về nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp thì người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là “các nhà quản lí, các chuyên gia, các doanh nhân, các công nhân kỹ thuật bậc cao. Theo Nguyễn Văn Hậu, trong Luận văn về “Một số giải pháp nhằm thu hút người có trình độ cao về làm việc tại tỉnh Khánh Hòa”, tác giả cũng đưa ra khái niệm về nguồn lao động có trình độ cao như sau. “ Nguồn lao động có trình độ cao bao gồm những lao động qua đào tạo, được cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo, có chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc tương ứng với trình độ được đạo tạo (trừ một số trường hợp đặc biệt không qua đào tạo); có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động, sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung”[37]. Từ những quan niệm, quan điểm và những phân tích trên, có nên hiểu nhân tài, người có trình độ cao, người có chuyên môn cao và tri thức là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao không? hay khác nhau? Theo tác giả, nhân lực , nhân tài là khái niệm rộng, có thể hiểu nguồn nhân lực, nhân tài bao gồm cả những người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và những người khác như; người lao động bình thường.còn người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao phải là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật về một lĩnh vực nhất định.
Trước khi đi làm rõ về khái niệm người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, chúng ta cần làm rõ một số vấn đề sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một là, Phân biệt trình độ và trình độ chuyên môn, trình độ và trình độ kỹ thuật Trình độ là một mức học vấn nhất định như trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, trình độ đại học.còn trình độ chuyên môn, trình độ kỹ thuật là trình độ của một chuyên ngành nào đó mà người đó đã theo học. Theo luật dạy nghề năm 2006 thì dạy nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên [2]. Từ đó giúp ta hiểu được trình độ của một người, đó là trình độ theo cấp đào tạo, tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng nhiều người chỉ học qua trung cấp, cao đẳng, nghĩa là họ chưa có bằng đại học nhưng họ vẫn được gọi là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, như công nhân 7/7.
Ví dụ, Trình độ học là Đại học Luật nhưng người đó học chuyên ngành Luật kinh tế, thì trình độ chuyên môn của người này là Luật kinh tế, trình độ là Đại học giao thông vận tải nhưng người đó học chuyên ngành kỹ sư cầu đường thì trình độ kỹ thuật người này là kỹ sư cầu đường. Hai là, Phân biệt nhân tài và người có trình độ cao Như đã nói ở trên, có nhiều quan niệm về nhân tài, và nhân tài là một khái niệm rộng, có thể hiểu nhân tài bao gồm cả người có trình độ cao, nhân tài không nhất thiết phải có bằng cấp, chứng chỉ.miễn là họ có năng lực vượt trội về một lĩnh vực nhất định, còn người có trình độ cao là người gửi cho chúng ta cảm giác về trình độ học vấn, bằng cấp, chứng chỉ cao hoặc những sản phẩm cao cấp mà người bình thường không làm được. Ví dụ, Một người nông dân có thể sáng chế được máy cày, máy bơm nước.trong khi người nông dân đó không hề có bằng cấp; người có trình độ cao như người học xong đại học đủ điều kiện thi lên Tiến sĩ và học xong tiến sĩ mặc dù thực thế người này chưa có sản phẩm từ hoạt động thực tế, mà hiện tại chỉ là bằng tiến sĩ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là, Phân biệt người có trình độ chuyên môn và người có trình độ kỹ thuật Nhìn chung, giữa trình độ chuyên môn, và trình độ kỹ thuật là không khác nhau.
Tuy nhiên, tùy theo tính chất của các ngành nghề đào tạo, loại hình đào tạo mà dùng hai thuật ngữ đó khác nhau. Ví dụ, Cùng học trường Đại học nhưng người học ngành kiến trúc, khi tốt nghiệp họ được bằng kiến trúc sư (kỹ sư), kỹ sư điện, kỹ sư công nghệ thông tin.và người này được gọi là người có trình độ kỹ thuật, còn người học ngành toán và sau khi tốt nghiệp ở lại làm giảng viên người này được gọi là có trình độ chuyên môn là Giảng viên toán. Bốn là, Phân biệt giữa trình độ chuyên môn, kỹ thuật và trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Như đã phân tích ở trên, trình độ chuyên môn, kỹ thuật là trình độ chuyên ngành sâu về một lĩnh vực nào đó, từ đó chúng ta hiểu trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao là trình độ chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu hơn nữa về lĩnh vực đó, nghĩa là một người nào đó được gọi là có chuyên môn, kỹ thuật cao thì người đó phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu vào một lĩnh vực nào đó thể hiện bằng năng lực thực tế, với bằng cấp hoặc kinh nghiệm. Hiện nay, quy định về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao còn hạn chế, có thể thấy ở một số văn bản sau.