Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này tác giả sẽ trình bày: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cho đề tài, đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, kết cấu đề tài luận văn. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong chương này tác giả sẽ trình bày: các khái niệm của đề tài, lý thuyết nền cho đề tài, các nghiên cứu trước liên quan, mô hình nghiên cứu đề xuất kế thừa từ các nghiên cứu trước có liên quan, các khái niệm liên quan và các giả thuyết của đề tài. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng và thang đo dự kiến của đề tài. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu thảo luận Trong chương này tác giả dựa vào kết quả nghiên cứu định tính lập bảng câu hỏi khảo sát và thu thập số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng.
Tiếp theo tiến hành xử lý, nhập các số liệu vào phần mềm tiến hành chạy trên SPSS và 4 đưa ra kết quả cho nghiên cứu định lượng. Sau đó, tác giả sẽ thảo luận các kết quả nghiên cứu của đề tài. - Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tác giả kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ lao động và dựa trên kết quả nghiên cứu đưa ra một số hàm ý quản trị. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này tác giả sẽ trình bày các khái niệm chính trong đề tài nghiên cứu bao gồm khái niệm Quan hệ lao động, Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, khái niệm về Khu công nghiệp và các chủ thể cấu thành quan hệ lao động.
Tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết quan hệ lao động, các nghiên cứu trước có liên quan, từ dó đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu.1 Các khái niệm chính 2.1 Quan hệ lao động Theo ILO- Tổ chức quan hệ lao động quốc tế (1994), quan hệ lao động là quan hệ công nghiệp bao gồm NSDLĐ, NLĐ, các tổ chức đại diện của NLĐ, NSDLĐ và chính phủ sẽ tương tác với nhau. Quan hệ lao động là mối quan hệ xã hội giữa các bên có địa vị, lợi ích khác nhau trong quá trình thực hiện công việc, đó chính là quan hệ giữa người làm công ăn lương và NSDLĐ. Theo John Dunlop (1958), xã hội công nghiệp nhất thiết phải tạo ra quan hệ lao động, quan hệ lao động là mối quan hệ phức tạp giữa NLĐ, NSDLĐ và chính phủ. Theo David và Caroline (1997), quan hệ lao động là những mối quan hệ cá nhân hay tập thể giữa NLĐ với NSDLĐ tại nơi làm việc và nảy sinh từ quá trình thực hiện công việc, cũng như những mối quan hệ giữa các đại diện của NLĐ, NSDLĐ và những chủ thể này sẽ tương tác với nhà nước.
Những mối quan hệ liên quan đến các khía cạnh về luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học, với rất nhiểu vấn đề khác nhau về các điều kiện làm việc, đãi ngộ của NLĐ sẽ được hưởng trong doanh nghiệp. Trong đề tài, tác giả sử dụng định nghĩa quan hệ lao động tại đơn vị, doanh nghiệp là quan hệ xã hội sẽ phát sinh trong việc thực hiện thuê mướn, sử dụng lao động, trả công làm việc của NSDLĐ đối với NLĐ, các tổ chức đại diện của NLĐ và NSDLĐ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan.2 Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo luật đầu tư (2014), đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư của một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp góp vốn bằng tiền, bằng công nghệ kỹ thuật, bằng đất đai hoặc các loại tài sản khác có giá trị khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo quy định tại Việt Nam. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI) là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn góp là bao nhiêu. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư trực tiếp để đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp đang hoạt động trong một nền kinh tế khác.3 Khu công nghiệp Theo điều 2 Nghị đinh số 36-CP năm 1997, KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất các mặt hàng công nghiệp, thực hiện các dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp và có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; KCN do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Theo điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP năm 2018, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất các mặt hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp.4 Các chủ thể cấu thành quan hệ lao động + Theo Walker và Dunlop (1970), hệ thống quan hệ lao động bao gồm 03 thành phần: - NLĐ và tổ chức của họ. - NSDLĐ và tổ chức của họ. - Các cơ quan nhà nước có liên quan đến quan hệ lao động. Các thành phần trong hệ thống quan hệ lao động sẽ tương tác với nhau tạo nên các tổ hợp quy tắc tại nơi làm việc và trong cộng đồng làm việc, các quy tắc đó sẽ được thể hiện dưới nhiều hình thức pháp lý trong các hệ thống khác nhau.
7 + Theo Vũ Việt Hằng (2004), có 03 nhóm chủ thể cấu thành nên quan hệ lao động: NLĐ và tổ chức đại diện cho quyền lợi của NLĐ; NSDLĐ và tổ chức đại diện cho quyền lợi của NSDLĐ và Nhà nước. Trong mối quan hệ lao động, NLĐ và NSDLĐ sẽ thương lượng với nhau để đạt mục tiêu của mỗi bên, còn Nhà nước thiết lập hệ thống pháp luật để điều chỉnh và bắt hai chủ thể trên phải tôn trọng. Trong quá trình vận hành công việc và tuân thủ pháp luật của Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ có thể phản hồi những điểm bất hợp lý của luật để Nhà nước thực hiện sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp với điều kiện thực tế. ❖ NLĐ và tổ chức đại diện cho quyền lợi của NLĐ NLĐ tham gia vào quan hệ lao động với một thỏa thuận mà theo đó NLĐ phải thực hiện một công việc nhất định và được cung cấp phương tiện vật chát cần thiết để làm việc và nhận một số tiền nhất định.
Tổ chức đại diện cho NLĐ là công đoàn có cơ cấu chính thức, mục tiêu rõ ràng trong phạm vi quan hệ lao động. Công đoàn sẽ bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của NLĐ; giúp giáo dục và phát triển ý thức nghề nghiệp, ý thức kỷ luật cho NLĐ, tham gia quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước. ❖ NSDLĐ và tổ chức đại diện của NSDLĐ Trong quan hệ lao động, có NLĐ thì phải có NSDLĐ, là người sở hữu vốn hay người chủ hợp đồng theo quan điểm cổ điển. Hiện nay, NSDLĐ là những người có quyền tuyển dụng, sa thải lao động hay là những người làm cho những người khác phải làm việc bao gồm tất cả những người làm công tác quản lý từ giám đốc đến đốc công hay cũng có thể hiểu là những người tham gia vào thương lượng tập thể với công đoàn.
Tổ chức đại diện cho NSDLĐ là các hiệp hội của giới chủ hoạt động từ kinh phí đóng góp của các doanh nghiệp thành viên với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi và đào tạo nghề nghiệp cho các thành viên, đối thoại với Nhà nước và các phương tiện truyền thông, tạo đối trọng với công đoàn. 8 ❖ Nhà nước Nhà nước tham gia vào mối quan hệ của NLĐ với NSDLĐ để ổn định xã hội với chức năng: đảm bảo khuôn khổ pháp lý để quan hệ lao động vận hành thông qua các điều luật cụ thể về quyền về trách nhiệm của NLĐ và NSDLĐ, các quy định về thủ tục trình tự giải quyết các tranh chấp, xung đột; tham gia giải quyết tranh chấp dưới các hình thức thanh tra, hòa giải và xét xử.2 Lý thuyết quan hệ lao động 2.1 Lý thuyết và thực hành về quan hệ công nghiệp của Edwards Theo Edwards (2003), quan hệ lao động gồm 2 phần quan hệ thị trường và quan hệ quản lý, và giá lao động không chỉ là tiền lương cho thực hiện công việc mà bao gồm số giờ làm việc, số ngày nghỉ và các khoản phụ cấp trong công việc. Nhà nước NSDLĐ Quan hệ lao động NLĐ Tổ chức đại diện NLĐ Hình 2.1 Mối quan hệ việc làm theo Edwards Theo Edwards có 04 chủ thể tác động đến quan hệ lao động bao gồm nhà nước, NLĐ, NSDLĐ, tổ chức đại diện người lao động. NLĐ và NSDLĐ chịu tác động của nhà nước, tổ chức đại điện NLĐ và nhà nước tác động ngược lại hai chủ thể trên; nhà nước và tổ chức đại diện NLĐ cũng tác động qua lại với nhau nhằm mục đích điều chỉnh để có một mối quan hệ lao động hài hòa trong tổ chức.
Quan hệ lao động được định nghĩa là mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ chịu tác động trực tiếp bởi hai tổ chức trung gian là nhà nước, tổ chức đại diện NLĐ. Tổ chức đại diện NLĐ (công đoàn hay đôi khi là tổ chức phi công đoàn) đóng vai trò đại diện cho NLĐ tương tác với NSDLĐ. Công đoàn tương tác với NLĐ qua các hoạt động tổ chức, tìm hiểu về nhu cầu của NLĐ, với NSDLĐ thông qua các 9 thỏa ước thương lượng tập thể và tham gia với nhà nước như đưa ra các yêu cầu về thay đổi luật pháp, vấn đề lưu trú, … của NLĐ. Nhà nước tác động trực tiếp đến quan hệ lao động thông qua luật về lao động, tác động gián tiếp đến các công đoàn và NSDLĐ thông qua các luật về chính phủ liên hiệp, hoặc thông qua các thỏa thuận song phương, các thỏa ước lao động,….
Sự tác động của NLĐ, NSDLĐ với mối quan hệ lao động biểu hiện qua các xung đột, quyền lực và khung tham chiếu riêng của từng chủ thể và thông qua các quy tắc, quyền lực và sự đàm phán sắp xếp trật tự trong công việc giữa các bên. NSDLĐ sẽ dựa vào các quy tắc, quyền lực tại nơi làm việc để tác động vào quan hệ lao động một cách hợp pháp, ngược lại NLĐ sẽ dựa vào tổ chức đại diện để bày tỏ nguyện vọng của mình đến NSDLĐ, nhà nước từ đó tác động đến quan hệ lao động và có sự sắp xếp trật tự trong công việc một cách hợp lý, hài hòa.