phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chơng, 9 tiết: Chơng 1. Cơ sở lý luận về chính sách xuất khẩu lao động và các tác động của chính sách xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế, xã hội. Tình hình thực hiện chính sách xuất khâu lao động và kết quả xuất khẩu lao động tại xã Cổ Thành, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dơng. Chơng 3: Tác động tích cực và cha tích cực của chính sách xuất khẩu lao động đến đời sống kinh tế, xã hội tại xã Cổ Thành, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dơng.
13 NỘI DUNG CHƠỊƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH XUÁT KHẨU LAO ĐỘNG ĐÉN ĐỜI SÓNG KINH TÉ, XÃ HỘI 1. Khái niệm về chính sách và chính sách xuất khẩu lao động 1. M6t sé dinh nghia vé chinh sách và đặc điểm cơ bản của chính sách - Định nghĩa về chính sách Cách tiếp cận để xem xét khái niệm về chính sách trong thực tế rất đa dạng.
Trong cuốn Understanding public policy, Thomas R.Dye da ra mét định nghĩa về chinh sdch céng: “Public policy is whatever government choose to do or not to đo”, đợc hiểu là “Chính sách công là điều mà một chính phủ chọn để làm hoặc không làm”. [43] Theo James Anderson cho rằng: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thé theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”. [42] Dới góc độ tiếp cận xã hội học, chóng ta có thể hiểu, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thé quan ly da ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đây việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hớng tới. Từ góc độ này, chính sách đợc hiểu là tập hợp những biện pháp u đãi đối với một nhóm xã hội nhất định để nhóm này đóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện một mục tiêu xã hội nào đó.
Từ đó xuất hiện sự phân biệt đối xử với các nhóm xã hội tạo ra sự bất bình đăng xã hội. Xét từ tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, chúng ta hiểu, chính sách là phơng tiện tác động đến hàng loại sinh hoạt văn hóa và xã hội của con 14 ngời, từ đó dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách và hơn nữa là những kiến tạo xã hội mới đo chính sách dẫn đến. Theo cách tiếp cận tâm lý học, chính sách là tập hợp biện pháp đối xử u đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hớng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực. Xét từ tiếp cận đạo đức học, thì chính sách là thể hiện thái độ đối xử phù hợp đạo đức của một chủ thể quyền lực, chủ thể quản lý với đối tợng bị quản lý.
Chính sách của nhà nớc thê hiện đạo đức của chủ thể quyền lực chính trị đứng sau chính phủ. Nói một cách chính xác hơn, chính sách của một chính phủ luôn đợc đặt trong khung khổ chuân mực đạo đức của chu thé quyền lực chính trị đứng sau chính phủ. Xét về mặt pháp lý, chính sách là tập hợp biện pháp đợc thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hớng theo mục tiêu phát triển xã hội. Các bộ luật của Quốc hội, nghị định, quyết định của chính phủ, thông t hớng dẫn của các bộ đề thực hiện nghị định của chính phủ trong lĩnh vực mà bộ chịu trách nhiệm trớc chính sách đợc công bố dới dạng văn bản pháp lý đều đợc coi là chính sách.
Các văn bản đó có chức năng thê chế hóa các t tởng chính sách và chuyên tải những t tởng chính sách ấy tới công chúng. Dới góc độ tiếu cận về mặt pháp lý, chính sách là tập hợp biện pháp đợc thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hớng theo mục tiêu phát triển xã hội. Tất cả các biện pháp chính sách, dò theo tiếp cận nào cũng đợc côcng bố dới dạng một văn bản pháp lý, chăng hạn, cao nhật là một đạo luật của quốc hội, thấp hơn có các nghị định hoặc quyết định của chính phủ, và cuối còng là các thông t hớng dẫn của các bộ để thực hiện nghị định của chính phủ trong lĩnh vực mà bộ chỊu trách nhiệm trớc chính phủ. 15 Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Chính sách là sách lợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đặt ra.” Có thể đễ dàng nhận thấy từ các góc độ tiếp cận khác nhau trong những lĩnh vực nghiên cứu, khái niệm chính sách trở nên đa dạng, phong phú và toàn diện hơn.
Để thống nhất trong phơng pháp tiếp cận và sử dụng làm cơ sở lý luận cho để tài nghiên cứu, tác giả sử đụng định nghĩa về chính sách theo tác giả Vũ Cao Đàm nh sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp đợc thể chế hóa, mà một chú thể quyền lực, hoặc chú thể quản lý đa ra, trong đó t o sự u đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ ho t động của họ, định hóng ho t động của họ nhằm thực hiện một mục tiéu u tiên nào đó trong chiến lợc phát triển của một hệ thống xã hội ” [8:29] - Đặc điểm cơ bản của chính sách Chính sách là một thiết chế xã hội [10;17]. Trong mỗi chính sách lại tồn tại một tập hợp các thiết chế bao gồm: thiết chế thành văn, thiết chế bất thành văn, thiết chế công bó, thiết chế ngầm định. Những thiết chế nay co thé đồng thời tồn tại trong một chính sách hoặc khuyết thiếu tùy thuộc vào chủ đích của ngời xây dựng chính sách. Những ngời làm chính sách cần khéo léo sử dụng kết hợp các loại thiết chế này trong một văn bản chính sách, hoặc một số văn bản chính sách có liên quan.
Đồng thời, ngời làm chính sách cũng phải biết hoạch định dự kiến tối đa những thiết chế ngầm định ngoài mong muốn dẫn đến hạn chế hiệu quả của một chính sách. Chính sách tạo sự u đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ đề nhóm này nỗ lực thực hiện một mục tiêu nào đó của xã hội do đó, chính sách mang đặc điểm của sự phân biệt đối xử (bất bình đăng xã hội). Sự phân biệt đối xử đó khi áp dụng trong hệ thống xã hội sẽ phân chia xã hội thành ba nhóm đối tợng: nhóm đợc lợi, nhóm bị thiệt, 16 nhóm vô can. Nhóm đợc lợi do chính sách là nhóm đợc hởng những lợi ích do sự u đãi mà chính sách mang lại.
Những u đãi đó là động lực kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm, sao cho mọi hoạt động này đều đem lại hiệu quả phát triển xã hội mà đồng nhất với mục tiêu của chính sách. Nhóm bị thiệt là các nhóm không thuộc đối tợng đợc u đãi có thể chiếm số lợng lớn hơn hoặc chiếm số lợng nhỏ hơn nhóm đợc lợi tùy thuộc từng chính sách. Nhóm vô can là nhóm không đợc lợi, cũng không bị thiệt trong chính sách. Tuy nhiên, nhóm vô can chỉ mang tính tơng đối và có thể dịch chuyền sang nhóm bị thiệt hoặc nhóm đợc lợi phụ thuộc vào sự thay đổi môi trong cua chính sách (môi trờng chính sách bao gồm: môi trờng pháp lý, môi trờng xã hội, môi trờng quốc tế).[9] Chính sách tác động (kích thích) vào động cơ hoạt động của con ngời.
Dựa trên học thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, khi trình độ lao động của con ngời phát triển càng cao thì ngời ta càng hớng đến những nhu cầu ở cấp cao hon. Trong bai viét A Theory of Human motivation céng bé nam 1943, Maslow phân loại nhu cầu của con ngời theo mô hình các tầng của một “Tháp nhu cầu". Các nhu cầu ở tầng thấp nhất là nhu cầu tối thiểu của con ngời về thé ly (nh thở, ăn, uống, nghỉ ngơi, trú ngụ.) đến nhu cầu cao nhất tự thể hiện bản thân (thê hiện khả năng, đợc công nhận, đợc kính trọng và nhu cầu đợc tự trọng). [44] Mỗi chính sách đợc xây dựng đều có mục tiêu hớng đến việc giải quyết vấn đề nào đó của xã hội bằng một hoặc nhiều phong tiện khác nhau.
Từ việc xác định mục tiêu và phơng tiện của chính sách trên cấu trúc khung mẫu gồm 4 tang (nh biểu đồ 1.1) Triết lý, Hệ quan điểm, hệ chuẩn mực, hệ khái niệm chúng ta có thể đa ra đự đoán hoặc đựa vào thực tế khi triển khai chính sách đề đánh giá chính sách hiệu quả hay không. 17 Hệ quan điểm Hệ chuân mực Hệ khái nệm Biểu đồ 1. Cấu tróc khung mẫu chính sách Chính sách đợc đánh giá là hiệu quả hay không hiệu quả khi đợc áp dụng vào thực tế phụ thuộc bởi nhiều yếu tố tác nhân trong hệ thống quản lý nh: tác nhân đầu vào, tác nhân đầu ra, tác nhân từ chủ thể điều khiển hệ thống, tác nhân từ đối tợng bị điều khiến trong hệ thống, hay tác nhân từ phía môi trờng của hệ thống. Các tác nhân này có thể đem đến tác động tích cực hoặc tiêu cực cho chính sách.
Nếu các tác nhân dẫn đến yếu tố tiêu cực cho chính sách sẽ tạo ra những rủi ro vợt ngoài chuẩn mực khuôn mẫu mà chính sách hớng đến, đem lại tác động xấu cho xã hội. Vì vậy, việc nhận diện các tác động này giúp cho chủ thể quản lý đề xuất các phơng án sửa đổi chính sách cho phù hợp. Có thể nhận thấy, mỗi chính sách khi xây dựng đều chứa đựng tính chất nhiều mặt trong tác động đối với xã hội. Các tác động có thể xuất phát từ chủ đích hoặc ngoài chủ đích.
Các tác động này thờng xuất hiện dới 3 dạng: Tác động tích cực, tác động tiêu cực, tác động ngoại biên. Tác động tích cực của chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả tròng khớp, phò hợp với mục tiêu ban đầu của chính sách hớng đến. Ngoài tác động tích cực, chính sách cũng mang lại những tác động tiêu cực.