chương 1, luận án sẽ điểm lại và bình luận về các dự án, đề tài nghiên cứu về di dân nội địa, nghiên cứu về thanh niên, di dân trẻ nói chung và đặc biệt là di dân học tập nói riêng. Tuy nhiên, thực tế tìm hiểu tài liệu cho thấy những nghiên cứu về cuộc sống của đối tượng di dân học tập, những nhân tố tác động đến quyết định ở lại thành phố làm việc sau khi tốt nghiệp, sự hòa nhập kinh tế - xã hội của người nhập cư là sinh viên đã tốt nghiệp ở lại các thành phố lớn là không nhiều, điều này gây ra một số khó khăn nhất định khi triển khai nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu về di dân nội địa 1. Nguyên nhân và đặc điểm của di dân Nhiều nhà nghiên cứu, với các cách tiếp cận vĩ mô chỉ ra rằng cùng với những chính sách đổi mới trong cơ chế thị trường (1986) đã làm bùng nổ tăng trưởng kinh tế ở các đô thị, thúc đẩy quá trình đô thị hóa và dẫn đến sự tăng nhanh dòng nhập cư nông thôn - đô thị nhằm tìm kiếm việc làm ở các thị trường lao động 15 đô thị đang được mở rộng [75, tr.
Việc áp dụng chính sách khoán hộ trong sản xuất nông nghiệp (1988), người nông dân không phải gắn chặt với đất đai nữa, ở nông thôn xuất hiện hiện tượng: người nông dân có ít đất, sản xuất nông nghiệp không có lời đã bán đất cho những hộ có tiền, có kinh nghiệm tích tụ đất để sản xuất hàng hóa. Hiện tượng này dẫn đến một bộ phận nông dân không đất đã có tác động thúc đẩy quá trình di dân sinh động, thông qua nhiều phương thức khác nhau [34, tr. Mặt khác, sản xuất nông nghiệp ngày càng được thương mại và cơ giới hóa, lao động sống được thay thế bằng vốn đầu tư đã có một tác động rất lớn trong việc giải phóng lực lượng lao động nông thôn, thúc đẩy họ rời làng quê [02, tr. Bên cạnh đó, không phân biệt tình trạng cư trú, người dân không còn lệ thuộc vào sự trợ cấp và phân phối của nhà nước.
Hệ thống đăng ký nhân khẩu mặc dù tiếp tục tồn tại song không còn là điều kiện quy định việc ăn ở và sinh hoạt của người dân, nhất là khu vực thành thị; do tình trạng thừa lao động so với nhu cầu, và do sự chênh lệch thu nhập giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn, người dân phải tìm đến những nơi mà họ cho là có điều kiện và cơ hội kinh tế tốt hơn, mà thông thường đó là những trung tâm đô thị lớn. Với lý do đó, di dân hướng tới đô thị là một quy luật tất yếu [02, tr. Đây được coi là “một chiến lược sinh kế cho đại đa số gia đình ở nông thôn” [04, tr. Việc di cư không mang tính cá nhân, mà phụ thuộc vào mạng lưới xã hội, mà đặc biệt là vai trò của mạng lưới xã hội “không chính thức” [54, tr.
Mạng lưới xã hội góp phần làm giảm bớt chi phí di cư, tìm kiếm việc làm cũng như thúc đẩy sự hội nhập của người di cư tại địa bàn nơi đến cũng như nó có thể làm giảm bớt những rủi ro, bất trắc trong công việc làm hằng ngày tại nơi ở mới. Những việc làm có thu nhập cao và ổn định chỉ có thể đạt được bằng sự quen biết, bảo lãnh của người thân có mối quan hệ xã hội rộng rãi [03, tr. Nhìn chung, nữ giới phụ thuộc vào mạng lưới di cư nhiều hơn nam giới [03, tr. Một số nghiên cứu cũng cho rằng mạng lưới xã hội có liên hệ mật thiết với các khái niệm khác như vốn con người và “vốn xã hội” [44, tr.
Vốn xã hội giúp người di dân hòa nhập nhanh với môi trường mới. Trong các nghiên cứu về đặc điểm di dân, các tác giả đều đưa ra các kết luận khá giống nhau. Xu hướng xuất cư, trong đó chủ yếu là xuất cư ngoài tỉnh đến các vùng đô thị ngày càng tăng; xuất cư kinh tế thường là xuất cư ngoài tỉnh và đến các 16 vùng đô thị, tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi trẻ, nam giới, độc thân, có học vấn tương đối cao, làm nghề nông, trong những gia đình ít ruộng đất và đông con; diện tích đất canh tác trung bình trên nhân khẩu thấp có khuynh hướng xuất cư cao hơn [72, tr. Người di cư có độ tuổi trẻ, dân số nữ giới di cư chiếm khoảng một nửa và liên tục tăng [78, tr.23-24]; hầu hết người di cư không có nhà và phải đi thuê và đăng ký tạm trú; người di cư đến TP.HCM và Tây Nguyên không thuộc vùng nào nổi trội; nhân tố thúc đẩy di cư là kinh tế, tìm kiếm việc làm; người di cư gặp bất lợi về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội [89, tr.
Di cư như là một chiến lược sống của hộ gia đình nông thôn, trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp và phần lớn thành viên di cư, do hạn chế về nguồn lực (vốn xã hội, vốn con người, vốn vật chất và tài chính,…) chỉ có cơ hội tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức tại đô thị [58, tr. Vai trò và hệ quả của di dân Hầu hết các nghiên cứu về di dân ở Việt Nam đều phân tích vai trò của di dân đối với cả nơi xuất cư và nhập cư. Đối với nơi xuất cư, di cư góp một phần đáng kể vào việc cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống, tạo vốn để phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn [01, tr. Với tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn (khoảng 20%) và tỉ lệ thất nghiệp đô thị khoảng 5%, trong khi các khu công nghiệp lại xảy ra tình trạng thiếu lao động, thì di dân từ nông thôn ra thành thị đến các khu công nghiệp là giải pháp giải quyết tình trạng mất cân đối này, giúp thanh niên kiếm được việc làm và thu nhập cao hơn [56, tr.
Có thể thấy, việc di cư đã giúp phần lớn những người di cư tìm kiếm được nguồn thu nhập tốt hơn. Các khoản tiền mà họ chuyển về cho gia đình, người thân là một trong những lợi ích trực tiếp và quan trọng nhất. Báo cáo phát triển con người của UNFPA năm 2009 đã ước tính, tổng số tiền mà người Việt Nam di cư trong nước và quốc tế gửi về trong năm 2007 là 5,5 tỉ USD [71]. Bên cạnh những đóng góp kinh tế cho nơi xuất cư, người di cư đóng góp kinh tế cho sự phát triển của đô thị như việc chi tiêu của họ ở đô thị, cung ứng nhu cầu dịch vụ việc làm, cung ứng nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp nông thôn thông qua tái sử dụng từ đô thị… [61, tr.
Nhìn chung, di cư đã và đang trở thành sự lựa chọn của người dân nhằm cải thiện kế sinh nhai và tạo cơ hội làm ăn cho mình và nó trở thành một cấu thành không thể thiếu được của quá trình phát triển qua lại giữa vùng miền và lãnh thổ. Di cư là một yếu tố không thể thiếu 17 để phát triển kinh tế bởi di cư sẽ giúp phân bổ lại nguồn lực lao động từ những nơi thừa lao động sang những nơi cần lao động [91, tr. Bên cạnh những lợi ích kinh tế là sự thay đổi trong ý thức, lối sống của người dân nông thôn, thiết lập các bậc thang giá trị mới trong lối sống, ý thức làm giàu cũng như nhận thức và thái độ đối với vấn đề sinh đẻ - kế hoạch hóa gia đình. Những làng quê có nhiều người đi làm ăn và thoát ly ra thành phố có sự chuyển biến với những sắc màu mới trong cuộc sống [01, tr.
Ngoài việc đóng góp về mặt kinh tế cho các thành phố, di dân còn đảm nhận hầu hết các công việc ở khu vực phi chính thức ở các đô thị, những công việc mà cư dân sở tại không làm. Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn là bất hợp pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội và hầu hết các hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước. Chẳng hạn như lao động phục vụ gia đình, xe ôm, bán hàng rong, dịch vụ ăn uống vỉa hè, thu lượm ve chai, đánh giày, mại dâm. Như vậy, người di cư đã đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội không những tại địa phương nơi xuất cư mà còn tại các đô thị, nơi nhập cư.
Bên cạnh những đóng góp kinh tế - xã hội của di cư đối với nơi đi và nơi đến, hiện tượng di cư cũng dẫn đến những hệ quả mà nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh. Mặc dù di cư mang lại nhiều lợi ích, song cái giá phải trả cho việc di cư - chi phí tiền mặt cũng như hiện tượng stress, sự bất trắc và đôi khi các mối hiểm họa trong mỗi chuyến đi - có thể rất cao. Việc người dân từ nông thôn di cư đến đô thị đã tạo ra những áp lực về cơ sở hạ tầng hiện nay ở các thành phố và các dịch vụ xã hội như nhà ở, khám chữa bệnh, hệ thống điện, nước và vệ sinh [71]. Thách thức nổi bật là quy mô dân số quá lớn, ngày càng tăng nhanh và dân nhập cư tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây làm nảy sinh rất nhiều vấn đề đối với sự phát triển của thành phố [96, tr.
Nếu như trước đây di cư có chọn lọc thì ngày nay di cư dễ dàng hơn nên lao động phổ thông ngày càng nhiều. Với một lượng dân nhập cư có trình độ thấp, nguy cơ thất nghiệp cao cũng như dễ dàng nảy sinh các tệ nạn cho thành phố ở hiện tại cũng như trong tương lai [96, tr. Bên cạnh đó, người di cư cũng rất dễ bị tổn thương. Đối với người di cư nghèo, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, di cư đầy rủi ro và phải trả giá cao.
Thông thường, người di cư sinh sống trong điều kiện thiếu vệ sinh và không an toàn, họ cũng không đủ tiêu chuẩn để được hưởng các chương trình hỗ trợ giảm nghèo dành 18 cho người dân sở tại, còn chủ sử dụng lao động lại thường không tuân thủ những điều luật bảo vệ quyền và nhu cầu của người di cư [04, tr. Nhìn chung, vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế, xã hội của người di cư còn thiếu thốn; họ dễ bị các tệ nạn xã hội tại đô thị; thiếu các khả năng và điều kiện ổn định cuộc sống tại đô thị…[17, tr.