chương 1 này sẽ hệ thống hóa sơ sở lý thuyết liên quan đến chất lượng dịch vụ, bao gồm khái niệm về dịch vụ; chất lượng dịch vụ; sự hàilòng mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng, tìm hiểu về mô hình SERVQUAL của Parasuraman và các mô hình nghiên cứu có liên quan. Tổng quan về chuỗi cửa hàng Bách Hoá Xanh tại thành phố Hồ Chí Minh Giới thiệu về bách hóa xanh: Cuối năm 2015, BHX được đưa vào thử nghiệm với hình thức chuỗi cửa hàng chuyên bán lẻ thực phẩm tươi sống (thịt cá, rau củ, trái cây,…) và nhu yếu phẩm chất lượng, nguồn gốc rõ ràng. Trải qua gần 6 năm phát triển, BHX đã có gần 2.000 siêu thị trên khắp các tỉnh thành ở Miền Nam, Miền Đông và Nam Trung Bộ và hơn 20 kho hàng phục vụ cho website BachhoaXANH.com chuyên cung cấp các sản phẩm đa dạng về chủng loại; giá cả hợp lý, nhân viên thân thiện, địa điểm dễ tiếp cận đối với người nội trợ. Tổng quan về cửa hàng tiện lợi.
Cửa hàng tiện lợi (siêu thị tiện lợi, siêu thị mini) là loại hình kinh doanh bán lẻ với xu hướng tiện lợi và nhanh gọn để đáp ứng được mọi nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng. Với các mặt hàng thiết yếu hằng ngày, đồ ăn nhanh, phong cách làm việc hiện đại và chuyên nghiệp, các cửa hàng tiện lợi ngày càng “được lòng” nhiều khách hàng thành thị. Các cửa hàng tiện lợi cung cấp khá đầy đủ các mặt hàng, các ưu đãi giảm giá dành cho khách hàng thân thiết, đặc biệt có máy tính tiền, hóa đơn cụ thể để đối chiếu. Ngoài ra, các hệ thống cửa hàng tiện lợi mở rộng mặt bằng tại các khu đông dân cư và khu chợ để tạo sự thuận tiện cho mọi khách hàng.
Với cuộc sống hiện đại và vội vã như ngày nay thì các yếu tố như giá cả và chủng loại sản phẩm đều bị “đánh bay” bởi địa điểm và sự tiện lợi. Các cửa hàng có thể cung cấp cho người 5 mua sắm tiêu dùng những món hàng cần thiết trong cuộc sống cá nhân từ đồ ăn, thức uống đến cây kim, sợi chỉ; từ bàn chải đánh răng đến các loại văn phòng phẩm. Đặc biệt các mặt hàng đều được sắp xếp ngắn nắp, thuận tiện, chỉn chu. Thậm chí một vài cửa hàng tiện lợi còn giúp thanh toán các loại hóa đơn điện nước, điện thoại, nạp và rúttiền,… 1.
Khái niệm cửa hàng tiện lợi Theo từ điển quốc tế Webster (1993), siêu thị là một cửa hàng tự phục vụ hoặc cửa hàng bán lẻ độc lập cung cấp một chuỗi thực phẩm, hàng tiêu dùng được tổ chức theo các nhóm sản phẩm khác nhau. Nó có quy mô lớn và có nhiều sự lựa chọn hơn một cửa hàng truyền thống và nó nhỏ hơn so với các trung tâm thương mại. Trong một số nghiên cứu nổi bật khác, thì siêu thị được xem là cửa hàng lớn về quy mô, độc lập và bán danh mục nhiều sản phẩm khác nhau (Marshall et al. 2001), và được chia thành nhiều khu vực sản phẩm và cung cấp danh mục các sản phẩm đa dạng.
Theo Philips Kotler (2006), siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa". Đặc điểm cửa hàng tiện lợi. Phần lớn các siêu thị mini đều cung cấp những hàng hóa chủ đạo như thực phẩm: thịt cá, gạo, rau củ, sữa, bên cạnh một số loại hàng hóa gia dụng thiết yếu như chất tẩy rửa, dầu ăn. Mô hình tương đồng với siêu thị thông thường nhưng quy mô bé hơn rất nhiều.
Trung bình một siêu thị mini có diện tích trên dưới 200m2 , phục vụ cho những khách hàng có ít thời gian, có thu nhập tương đối, có nhu cầu mua sắm nhanh, tốn ít thời gian mà vẫn đảm bảo số lượng, an toàn vệ sinh. Các siêu thị mini với diện tích vừa đủ, cách trưng bày hàng hóa hiện đại, khoa học, tiện lợi cho người mua, cung cấp đa dạng mặt hàng, đang ngày càng nhận được sự ưu ái của người tiêu dùng. Thay vì phải đi một quãng đường xa và mất quá nhiều thời gian lựa chọn, mua sắm thì người dùng chọn việc vào siêu thị mini hoặc cửa hàng tiện lợi gần gia đình, vừa tiết kiệm chi phí đi lại, vừa không mất nhiều thời gian để chọn lựa, cân nhắc giữa các mặt hàng và chờ đợi để thanh toán. Hình thức hoạt động kinh doanh của cửa hàng tiện lợi BHX.
Đây là những mô hình cửa hàng được hoạt động 24/24, đáp ứng được mọi nhu cầu về thời gian của khách hàng trong cuộc sống hiện đại. Đặc biệt, chi phí và mức giá tại các cửa hàng “thông 6 đêm” sẽ cao hơn so với những cửa hàng chỉ mở ban ngày. Hầu hết các cửa hàng tạp hóa và siêu thị mở cửa từ lúc 7h sáng đến 10h tối. Nhưng với những khách hàng nào có nhu cầu mua hàng vào lúc 11h – 12h đêm vì đi làm, đi chơi về muộn, vì thức khuya hoặc chợt nhớ ra thức đồ cần mua thì những cửa hàng 24/7 là sự lựa chọn hoàn hảo và thuận tiện nhất.
Đây chính là một trong những ưu điểm cực lớn của các chuỗi cửa hàng tiện lợi so với mô hình kinh doanh tạp hóa khác. Hiện nay các cửa hàng tiện lợi 24h được tập trung chủ yếu tại các thành phố, đô thị lớn đông dân cư. Đặc biệt còn cung cấp thực phẩm, đồ uống nhập khẩu, đồ ăn nhanh đa dạng và có các dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt hơn hẳn so với các loại hình kinh doanh tạp hóa thông thường. Thật không thể phủ nhận được rằng cửa hàng tiện lợi ngày càng trở nên cần thiết và hữu ích với người dân trong thời đại phát triển nhanh chóng của thế kỉ 21.
Đặc biệt các chuỗi cửa hàng này dần trở thành các điểm đến yêu thích của giới trẻ Việt Nam, nơi có thể là một địa chỉ mua sắm thuận tiện, một chỗ trú chân, một nơi ăn uống chuyện trò cùng bạn bè. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ 1. Khái niệm Theo Gronroos (1990), dẫn theo Paul Lawrence Miner (1998) cho rằng dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng.
Cùng với quan điểm này thì Bùi Nguyên Hùng (2010) cho rằng dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng. Đặc điểm Dịch vụ có một số đặc điểm, nhưng ba đặc điểm thường được nêu trong các tài liệu nghiên cứu gồm: tính vô hình, dị biệt và không thể tách rời. 7 Tính vô hình (Intangibility) Shostack (1977, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998) cho rằng không có sự vật, sự việc đơn thuần là sản phẩm hay dịch vụ và ông cho rằng có một sự diễn tiến liên tục giữa sản phẩm hữu hình và hiệu quả vô hình.
Zeithaml and Leonard L. Berry (1985) cũng bình luận rằng tính vô hình có nghĩa là: “Hầu hết các dịch vụ không thể đo, đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo thái độ phục vụ và chất lượng dịch vụ”. Tính không đồng nhất (Heterogeneity) Dịch vụ được thực hiện sẽ khác nhau trong mỗi loại hình khác nhau, như dịch vụ cung cấp trong lĩnh vực du lịch khác trong lĩnh vực thư viện. Tính không thể tách rời (Inseparability) Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và sự tương tác giữa bên cung cấp và bên nhận dịch vụ có thể ảnh hưởng đến thái độ phục vụ và chất lượng dịch vụ.
Các quan điểm về chất lượng, thái độ phục vụ và chất lượng dịch vụ 1. Các quan điểm về chất lượng Khái niệm chất lượng đã xuất hiện từ rất lâu, ngày nay được sử dụng phổ biếnvà rất thông dụng hàng ngày trong cuộc sống cũng như trong sách báo. Bất cứ ở đâuhay trong tài liệu nào, chúng ta đều thấy xuất hiện thuật ngữ chất lượng. Tuy nhiên, hiểu thế nào là chất lượng lại là vấn đề không đơn giản.
Chất lượng là một phạm trùrất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Dotính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng. Mỗi khái niệm đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trongthực tế. Dưới đây là một số khái niệm về “chất lượng”.
Theo Joseph Juran & Frank Gryna (1988) cho rằng chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu. Armand Feigenbaum (1997) lại cho rằng chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặckhông được nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ 8 quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh. Cùng đồng quan điểm với ông Armand Feigenbaum, Russell (1999) cho rằng chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng. Theo American Society for Quality cũng cho rằng “Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”.
Theo Kaoru Ishikawa (Nhật Bản, 1990) “Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường”. Trong khi đó, tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) – ISO 9000:2000 “Chấtlượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu”. Theo Peter Senge et al “Chất lượng là một quá trình chuyển đổi theo phương thức chúng ta suy nghĩ và làm việc cùng nhau, theo phương thức mà chúng ta đánh giá và ban tặng và theo phương thức mà chúng ta đo lường sự thành công.