Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm về thanh toán điện tử Trên đà phát triển song song với thương mại điện tử, thanh toán điện tử dần trở nên sôi động và đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch hiện đại đặc biệt đối với đối tượng khách hàng từ 19-22 tuổi. Trong khoảng gần hai thập kỷ trở lại đây, hệ thống thanh toán điện tử đã thực sự trở nên thu hút đối với các nhà nghiên cứu và thiết kế hệ thống thông tin cho các sàn thương mại điện tử điều đó lý giải cho sự xuất hiện của các kết quả nghiên cứu khác nhau về định nghĩa của thanh toán điện tử.
Ví dụ: Theo nghiên cứu của Dennis (2004) đã trình bày khái niệm hệ thống thanh toán điện tử giống như một hình thức cam kết tài chính có liên quan đến khách hàng và nhà cung cấp thông qua việc sử dụng các thông tin liên lạc điện tử. Briggs và Brooks (2011) lại nói rằng, thanh toán điện tử là hình thức liên kết giữa các tổ chức, cá nhân được hỗ trợ bởi các ngân hàng cho phép giao dịch, mua bán thông qua hình thức điện tử hoặc dưới dạng tiền điện tử. Ở góc nhìn khác, Peter và Babatunde (2012) coi hệ thống thanh toán điện tử như là một phương thức chuyển khoản bằng Internet. Theo Adeoti và Osotimehin (2012), hệ thống thanh toán điện tử dùng để chỉ một phương tiện điện tử tiến hành thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ mua sắm trực tuyến tại các siêu thị và trung tâm mua sắm.
Một định nghĩa khác được nhắc đến, thanh toán điện tử là các khoản thanh toán giao dịch trong môi trường thương mại điện tử với hình thức trao đổi tiền thông qua các phương tiện điện tử (Kaur và Pathak, 2015). Thanh toán điện tử là một cách trả tiền điện tử cho hàng hóa hoặc dịch vụ khi mua sắm, thay vì sử dụng tiền mặt hoặc séc, trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. Hệ thống thanh toán điện tử thường được phân loại thành bốn hình thức: Thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, tiền điện tử, hệ thống Micropayment (Maiyo, 2013). Ngoài ra, Teoh và cộng sự (2013) cho rằng thanh toán điện tử cũng như bất kỳ các thể khác của một giá trị thanh toán điện tử của người nộp để thụ hưởng thông qua một kênh thanh toán điện tử cho phép người tiêu dùng truy cập từ xa và quản lý tài khoản ngân hàng và giao dịch qua mạng điện tử.
(Nguồn: Vũ Văn Điệp, 2017) Tóm lại, theo các định nghĩa trên, hệ thống thanh toán điện tử có thể chỉ đơn giản là một tập hợp các thành phần và quy trình cho phép hai hoặc nhiều bên tham gia giao dịch và giá trị tiền trao đổi thông qua phương tiện điện tử. Các hình thức thanh toán điện tử Thanh toán bằng thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng: Đây là 2 loại thẻ được phát hành bởi ngân hàng và liên kết với tài khoản ngân hàng của chủ sở hữu. Người dùng có thể sử dụng thẻ để thanh toán khi mua sắm ở các siêu thị, nhà hàng, mua sắm trực tuyến,. qua mã QR Code hoặc máy POS,.
và phí thanh toán sẽ trừ trực tiếp vào tài khoản 5 ngân hàng của chủ sở hữu thẻ. Đây là hình thức thanh toán tiện lợi nhất và đảm bảo được độ an toàn cao nhất cho người tiêu dùng vì họ không cần phải cung cấp bất kì một thông tin cá nhân nào cho bên bán hàng, hệ thống bảo mật của ngân hàng tạo được độ tin tưởng cao. Đối với các đại lý bán hàng để đăng kí dịch vụ thanh toán bằng thẻ tín dụng, người bán hàng cần phải ký kết với một ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ (Merchant Account), và trang bị phần mềm, phần cứng, thiết bị cần thiết để có thể chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ. Thanh toán bằng ví điện tử: Ví điện tử là một ứng dụng dành cho các thiết bị thông minh giúp người dùng có thể thanh toán trực tuyến trên các website, siêu thị, dịch vụ chấp nhận ví điện tử này.
Người dùng có thể liên kết tài khoản ngân hàng với ví điện tử để có thể nạp tiền vào ví qua tài khoản ngân hàng hoặc nạp trực tiếp tiền mặt tại các điểm giao dịch. Chi phí nạp tiền và thanh toán bằng ví điện tử hiện nay là hoàn toàn miễn phí, thanh toán bằng ví điện tử vô cùng nhanh gọn, chính xác, đơn giản. Thanh toán qua chuyển khoản ngân hàng: Bằng cách sử dụng máy ATM hoặc giao dịch trực tiếp tại ngân hàng, người dùng chuyển tiền của mình sang tài khoản của người bán một số tiền nhất định có giá trị bằng lượng hàng hóa cần phải thanh toán. Hình thức này giúp cho người dùng có thể thanh toán những khoản chi khá lớn một cách chính xác và an toàn khi ở xa.
Hiện nay, các ngân hàng đã có dịch vụ Mobile Banking có thể giúp người dùng chuyển khoản ngân hàng bằng điện thoại thông minh, hình thức thanh toán rất đơn giản tiện lợi mà người dùng có thể chuyển khoản ngân hàng tại bất cứ đâu, không nhất thiết phải đến cây ATM hoặc ngân hàng. Lợi ích của việc thanh toán điện tử Đối với người tiêu dùng, thanh toán điện tử hiện đang đóng vai trò rất lớn khi lợi ích mà các ứng dụng này mang lại là không hề nhỏ. Thanh toán điện tử ngày nay được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: mua sắm, dịch vụ, sinh hoạt gia đình,. Mọi người sẽ không phải đến ngân hàng để rút tiền, giữ tiền và có thể thanh toán ở bất cứ đâu chỉ với một chiếc điện thoại.
Giao dịch trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn ( Ngô Tuấn Anh, 2017) Hình thức thanh toán bằng thẻ và tiền điện tử ngày càng đa dạng khiến cho người tiêu dùng dễ dàng hơn trong việc thanh toán điện tử. Theo Ngô Tuấn Anh (2017) nhiều quốc gia sử dụng thẻ hoặc thanh toán qua điện thoại thông minh trong các ngành dịch vụ khác nhau. Có thể kể đến như thẻ sim tích hợp thanh toán trong viễn thông, các ứng dụng hỗ trợ thanh toán vé xe buýt, tàu điện trong giao thông vận tải, chứng minh thư điện tử trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hay các loại thẻ thanh toán của ngành ngân hàng… (Ngô Tuấn Anh, 2017) 6 1. Hạn chế của thanh toán điện tử Theo bài viết “Fintech trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam” (Dương Tấn Khoa, 2018) trong hội thảo khoa học “Tương lai của Fintech và ngân hàng: Phát triển và đổi mới” thì thanh toán điện tử có những hạn chế sau: Thanh toán điện tử có thể được cung cấp bởi ngân hàng hoặc các công ty fintech, mà việc dựa vào công nghệ của các công ty fintech có thể khiến công ty đối mặt với các rủi ro hệ thống như tính ổn định của hệ thống thanh toán hoặc rủi ro an ninh mạng khiến cho số dư của khách hàng có vấn đề, ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng.
Rủi ro an toàn của khách hàng khi khối lượng cơ sở dữ liệu của khách hàng là vô cùng lớn vì vậy khả năng khách hàng bị đánh cắp thông tin và bị tiết lộ cho đối tượng khác hoàn toàn hiện hữu. Tại Việt Nam, hệ thống pháp lý chưa đồng bộ được với sự phát triển vũ bão của công nghệ, chậm theo kịp sự phát triển của xã hội, người ta sử dụng các văn bản lạc hậu trước để xử lý các vấn đề về thanh toán điện tử. Vì vậy, rất có khả năng khách hàng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi hệ thống pháp lý lạc hậu này. Khái niệm về ý định hành vi thanh toán điện tử Theo Ajzen (1991), ý định được xem là “bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng và mức độ nỗ lực của mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”.
Tiếp theo sau đó, Davis tiếp tục sử dụng định nghĩa này để xây dựng mô hình TAM, kết luận cuối cùng với biến “ Actual System Use”. Dựa trên những khái niệm này, mô hình đề xuất đưa với tên gọi “Ý định hành vi” để mô tả xác suất có thể mà một người sẽ thực hiện sử dụng thanh toán điện tử ( Theodora và cộng sự, 2012). Các mô hình lý thuyết về chấp nhận công nghệ 1.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) được Davis đề xuất vào năm 1985 và phát triển mở rộng bởi chính Davis vào năm 1989 nhằm mục đích giải thích sự chấp nhận sử dụng công nghệ của người dùng. Mô hình này dựa trên nghiên cứu của của các mô hình đi trước như lý thuyết hành động hợp lý (TRA) (Ajzen và Fishbein, 1975) ,mô hình lý thuyết tâm lý học hành vi (Fishbein, 1960) để làm cơ sở cho việc khảo sát các yếu tố bên ngoài vào ý định, niềm tin của người sử dụng.
Khi một người đã có niềm tin vào một cái gì đó thì họ sẽ tự động có thái độ tốt về cái đó (Ajzen và Fishbein, 1975), niềm tin và thái độ có mối quan hệ cực kỳ chặt chẽ với nhau (TAM, Davis 1980). Các mô hình này được sử dụng như một công cụ nền tảng để dự đoán thái độ của người tiêu dùng trong việc chấp nhận công nghệ. Trong các nghiên cứu 7 đưa ra, mô hình Chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) của Davis (1986) được đánh giá là có độ tin cậy và tầm ảnh hưởng lớn với khả năng mô hình hóa sự chấp nhận công nghệ của người tiêu dùng. Mô hình chủ yếu đánh giá tầm ảnh hưởng của các nhân tố ý thức về sự hữu dụng (Perceived Usefulness), ý thức về việc dễ thao tác (Perceived Ease of Use) tới độ tin cậy cũng như thái độ và ý định của người sử dụng.
Mô hình đồng thời cũng chỉ ra rằng thái độ, ý định và hành vi của người tiêu dùng có mối quan hệ nguyên nhân - kết quả. Nhận thức về tính hữu ích là “mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của họ” và nhận thức về tính dễ sử dụng là “mức độ một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không cần nỗ lực” (Davis, 1989, tr. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Nguồn: Davis, 1989) TAM đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về hệ thống thông tin và nó đã được áp dụng thành công như là một khung lý thuyết để dự đoán ý định và hành vi khi thanh toán điện tử.