MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, thanh toán không dùng tiền mặt là xu hướng trên toàn thế giới và đang được đông đảo người dân Việt Nam lựa chọn thay cho hình thức chi trả tiền mặt thông thường. Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB), thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành phương thức thanh toán phổ biến tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới với giá trị chi tiêu của người dân chiếm tới hơn 90% tổng số giao dịch hằng ngày. Tỷ lệ tiền mặt trong tổng lượng tiền của nền kinh tế chỉ chiếm khoảng 7,7% ở Mỹ và 10% ở khu vực đồng Euro vào năm 2016.
Hầu hết các nước đã và đang triển khai công cuộc cải cách hệ thống thanh toán hiện đại, đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng cao của người dân. Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế 90% không dùng tiền mặt vào năm 2020 bằng cách giảm các giao dịch tiền mặt và tăng thanh toán điện tử. Theo đó, ít nhất 50% tổng số hộ gia đình ở thành phố sử dụng thanh toán điện tử cho giao dịch hàng ngày vào năm 2020. Là một phương tiện thanh toán trung gian, việc phát triển dịch vụ ví điện tử sẽ góp phần rất lớn để nước ta thực hiện được mục tiêu đề ra.
Ví điện tử như là một ví tiền trên môi trường mạng internet mà người tiêu dùng có thể sử dụng để mua bán hàng hóa tại các trang web hoặc thanh toán các loại cước. Từ thời điểm chiếc ví điện tử đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động thí điểm ở Việt Nam là năm 2009 thì đến năm 2017, nước ta đã có khoảng 20 ví điện tử các loại đang hoạt động, với số lượng ví phát hành ra thị trường là hơn 3 triệu ví. Thị trường ví điện tử ở nước ta đang trở nên sôi động với sự tham gia của cả nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, các ví điện tử đang linh hoạt thay đổi. Tuy nhiên, thị trường ví điện tử ở Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu tư cho tương lai bởi kinh doanh chưa thực sự có hiệu quả, chưa có ví nào chiếm lĩnh thị trường và phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ này vẫn gặp khó khăn, khách hàng đa số vẫn còn dè dặt, thăm dò và sử dụng hạn chế bởi ví điện tử còn mới mẻ và khá lạ lẫm.
Mặc dù lượng giao dịch thông qua ví điện tử vẫn chưa nhiều nhưng giới chuyên gia tài chính đánh giá tính cạnh tranh trên thị trường này sẽ ngày một tăng lên. 1 Điều này cũng mang đến kỳ vọng về sự phát triển của công cụ thanh toán không sử dụng tiền mặt này, trong nỗ lực thu hút khách hàng của các nhà cung cấp dịch vụ cùng với sự đẩy nhanh công tác hoàn thiện hành lang pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước. Chính vì vậy, việc có được một cái nhìn đầy đủ về những nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của khách hàng là điều rất cần thiết nhằm khám phá cũng như khẳng định được phần nào những nhân tố cơ bản. Tuy nhiên, mỗi quốc gia, mỗi vùng miền với những đặc điểm về kinh tế xã hội, văn hóa và đặc biệt là yếu tố con người sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cũng như kết quả nghiên cứu.
Là một thành phố với đa số người dân ít tiếp xúc với công nghệ, làm thế nào để thu hút khách hàng và phát triển ví điện tử ở thành phố Huế vẫn luôn là một câu hỏi khó đối với các nhà cung cấp dịch vụ này. Từ thực tế trên, cộng với việc tiếp thu các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng ở thành phố Huế”. Mục tiêu nghiên cứu * Mục tiêu tổng quát Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ví điện tử và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng, phân tích, đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng ở thành phố Huế, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển ví điện tử của người tiêu dùng ở thành phố Huế. * Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ví điện tử và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng.
- Xác định được những nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng. - Xây dựng mô hình đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó, áp dụng mô hình xây dựng được vào thực tế ở thành phố Huế để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. - Đề xuất một số kiến nghị cho công tác quản lý, xúc tiến, triển khai và phát triển ví điện tử trên địa bàn thành phố Huế. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Đối tƣợng nghiên cứu 2 Đối tượng nghiên cứu là ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng ở thành phố Huế (bao gồm cả người đã sử dụng và chưa sử dụng ví điện tử).
* Phạm vi nghiên cứu Về không gian: nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi thành phố Huế Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2018. Số liệu sơ cấp được điều tra từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2018 4. Phƣơng pháp nghiên cứu * Phƣơng pháp định tính: Nghiên cứu đã sử dụng nhiều kỹ thuật nghiên cứu định tính nhằm góp phần làm rõ vấn đề nghiên cứu trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng. Các kỹ thuật nghiên cứu định tính được sử dụng trong nghiên cứu này gồm: +Phương pháp duy vật biện chứng: làm cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận của đề tài nghiên cứu + Phương pháp thu thập, tổng hợp thông tin + Phương pháp xây dựng bảng hỏi: bảng hỏi được xây dựng, thiết kế với nhiều item dựa trên thang đo Likert 5 cấp độ, từ “rất không đồng ý” cho đến “rất đồng ý” + Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để bổ sung, loại bỏ hay điều chỉnh các biến trong mô hình đã đưa ra để áp dụng phù hợp nhất vào thực trạng của thành phố Huế.
* Phƣơng pháp định lƣợng: Sử dụng phương pháp định lượng để có cơ sở đưa ra kết luận chính xác về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng ở thành phố Huế, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp phù hợp. + Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp: Sau khi thu thập các thông tin về dịch vụ ví điện tử và các thông tin liên quan đến quá trình nghiên cứu tham khảo từ website, sách, báo, tạp chí, các đề tài, nghiên cứu liên quan; tiến hành phân tích, so sánh để nhận xét thực trạng. + Phương pháp thu thập và xử lý số liệu sơ cấp: ∙ Phương pháp điều tra chọn mẫu Xác định cỡ mẫu: Do không thể xác định được cụ thể kích cỡ tổng thể nên đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện. Đối tượng điều tra là người dân sống trên địa bàn thành phố Huế.
Theo phương pháp tính cỡ mẫu của Cochavan năm 1977: 3 Công thức tính cỡ mẫu : = Trong đó: - z2: là giá trị tương ứng miền thống kê tính từ trung bình tâm của miền phân phối chuẩn. Với độ chính xác của đề tài, chọn độ tin cậy 95%. Do đó z = 1,96 - e là sai số mẫu cho phép, chọn e ≈ 0,06 - p là tỷ lệ khách hàng đã từng sử dụng ví điện tử và q = (1 – p) là tỷ lệ khách hàng chưa từng sử dụng ví điện tử. Với giả định p = q = 0,5 để đảm bảo rằng mức độ đại diện của mẫu là cao nhất (Nguồn: “Phương pháp nghiên cứu xã hội học” – Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh, nhà xuất bản ĐH Quốc gia Hà Nội, 2001, trang 193) Ta có kích cỡ mẫu: n ≈ 283 (người) ∙ Phương pháp xử lý số liệu Kỹ thuật nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết mô hình phương trình cấu trúc SEM và sự hỗ trợ của phần mềm SPSS và AMOS.
Với kỹ thuật này sẽ bỏ qua đa cộng tuyến trong mô hình và sự tin cậy của dữ liệu thị trường cũng được xem xét thông qua các sai số đo lường, kỹ thuật được tiến hành như sau: + Phân tích nhân tố nhằm xem xét xem liệu các biến dùng đánh giá ý định sử dụng có độ kết dính cao hay không và chúng có thể gom lại thành một số ít nhân tố để xem xét không. Trong nghiên cứu này sau khi phân tích EFA, kết quả sẽ được sử dụng tiếp tục cho phân tích nhân tố khẳng định CFA và SEM nên ta sử dụng phương pháp trích Maximum Likelihood với phép xoay Direct Oblimin.Phân tích nhân tố được coi là phù hợp khi đạt các tiêu chuẩn: Hệ số tải nhân tố |Factor Loading| lớn nhất của mỗi hệ thang đo > 0,5, tổng phương sai trích > 50% (Gerbing & Anderson,1988), hệ số KMO > 0,5, và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê. + Tiếp theo sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmation Factor Analysis) để kiểm tra mô hình đo lường có đạt yêu cầu không, các thang đo có đạt yêu cầu của một thang đo tốt hay không. Để đo lường mức độ phù hợp của mô hình với thông tin thị trường, ta sử dụng các chỉ số Chi-square (CMIN), Chi-square điều chỉnh theo bậc tự do (CMIN/df), chỉ số thích hợp so sánh CFI, chỉ số Tucker & Lewis TLI, chỉ số RMSEA.
Mô hình được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường khi kiểm định Chi-square có P-value < 0. Nếu một mô hình nhận được các giá trị TLI, 4 CFI > 0.08 (Steiger, 1990) được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường. + Sau đó sử sụng mô hình cấu trúc SEM để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. 5 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ VÍ ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG 1.
Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan về ví điện tử 1. Định nghĩa Ví điện tử hay ví số là một tài khoản điện tử.