CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đưa ra lý do chọn đề tài nghiên cứu. Phát triển mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và cuối cùng là thể hiện bao quát kết cấu của bài nghiên cứu. Từ đó, có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ TỔNG QUAN VỀ THẺ TÍN DỤNG VÀ Ý ĐỊNH SỬ DỤNG Thẻ tín dụng Thẻ tín dụng - credit card thông thường được hiểu là một loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.
Thẻ tín dụng là một loại thẻ thanh toán được phát hành cho người dùng (chủ thẻ) để chủ thẻ thanh toán cho người bán hàng hóa và dịch vụ dựa trên khoản nợ tích lũy của chủ thẻ (nghĩa là cam kết với nhà phát hành thẻ sẽ thanh toán cho họ số tiền cộng với các khoản phí đã thỏa thuận khác). Tổ chức phát hành thẻ (thường là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng) tạo một tài khoản vay dạng tuần hoàn và cấp hạn mức tín dụng cho chủ thẻ, từ đó chủ thẻ có thể vay tiền để thanh toán cho người bán hoặc ứng trước tiền mặt. Có hai nhóm thẻ tín dụng: thẻ tín dụng tiêu dùng và thẻ tín dụng doanh nghiệp. Trong thực thế, hầu hết các thẻ là nhựa, nhưng một số là thẻ kim loại (thép không gỉ, vàng, paladi, titan) và một số thẻ kim loại nạm đá quý (O'Sullivan & Sheffrin, 2003).
Theo Jambulapati & Stavins (2014), lợi ích chính của chủ thẻ là mang lại sự tiện lợi. So với thẻ ghi nợ và séc, thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ nhanh chóng thực hiện các khoản vay ngắn hạn nhỏ, những người không cần tính toán số dư còn lại trước mỗi giao dịch, miễn là tổng chi phí không vượt quá hạn mức tín dụng tối đa của thẻ. Một lợi ích tài chính là không bị tính lãi khi số dư được thanh toán đầy đủ trong thời gian cho phép thanh toán. Một số lợi ích áp dụng cho các sản phẩm được mua bằng thẻ, chẳng hạn như bảo hành sản phẩm mở rộng, hoàn trả cho việc giảm giá ngay sau khi mua (bảo vệ giá) và hoàn trả cho hành vi trộm cắp hoặc hư hỏng đối với các sản phẩm đã mua gần đây (bảo vệ khi mua).
Các lợi ích khác bao gồm nhiều loại bảo hiểm du lịch khác nhau, chẳng hạn như bảo hiểm xe cho thuê, bảo hiểm tai nạn du lịch, bảo hiểm hành lý chậm trễ và bảo hiểm hoãn hoặc hủy chuyến đi.Thẻ tín dụng cũng có thể cung cấp một chương trình khách hàng thân thiết cho chủ thẻ, trong 7 đó mỗi lần mua hàng sẽ được thưởng dựa trên giá mua hàng. Thông thường, phần thưởng ở dạng hoàn tiền hoặc điểm. Điểm thường được đổi thành thẻ quà tặng, sản phẩm hoặc chi phí đi lại như vé máy bay. Một số thẻ tín dụng cho phép chuyển điểm tích lũy sang các chương trình khách hàng thân thiết của khách sạn và hãng hàng không.
Với các đơn vị chấp nhận thẻ - các nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa cho chủ thẻ, số tiền mua hàng dựa trên thẻ giảm bớt chi phí và các khó khăn của việc thanh toán bằng tiền mặt, và giao dịch thường an toàn hơn các hình thức thanh toán khác, chẳng hạn như séc. Thẻ tín dụng còn an toàn hơn tiền mặt vì chúng giảm cơ hội trộm cắp bằng cách giảm lượng tiền mặt tại cơ sở bán hàng. Cuối cùng, thẻ tín dụng làm giảm chi phí xử lý séc, tiền mặt và vận chuyển đến ngân hàng. Trước khi có thẻ tín dụng, mỗi thương gia phải đánh giá lịch sử tín dụng của mỗi khách hàng trước khi gia hạn tín dụng.
Nhiệm vụ đó bây giờ được thực hiện bởi các ngân hàng chịu rủi ro tín dụng. Doanh thu tăng thêm được tạo ra bởi thực tế là khách hàng có thể mua hàng hóa và dịch vụ ngay lập tức. Phần lớn hoạt động tiếp thị của các thương gia dựa trên tính tức thời này nhằm tạo nên sự cạnh tranh của thẻ tín dụng so với các phương thức thanh toán khác (Carrns, 2017). Ý định sử dụng Ý định sử dụng là yếu tố sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi cá nhân trong tương lai.
Theo Ajzen (1991), ý định sử dụng không chỉ dùng để đánh giá, mà còn là một yếu tố tạo động lực, mang tính thúc đẩy và thể hiện nổ lực của cá nhân, sẵn thực hiện hành vi và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi và ý định sử dụng được giả định làm tiền đề trung gian của hành vi sử dụng. Theo Scheer (2004), ý định còn là một trạng thái tinh thần, thường có sức mạnh nhân quả. Sự quyết tâm, sự lo lắng, háo hức của một người như sức mạnh thúc đẩy hành vi của chúng ta. Do trạng thái tinh thần hoạt động theo quan hệ nhân quả nên một người sẽ không thể cam kết thực hiện một quá trình hành động như chúng ta thường làm khi hứa hoặc ký một thỏa thuận hoặc hợp đồng.
Bên cạnh đó, ý định sử dụng cũng được sử dụng như một yếu tố để dự đoán hành vi thực tế trong phần lớn các nghiên cứu về sử dụng công nghệ (Irani, Dwivedi và Williams, 2009). 8 Vì vậy, việc hiểu được ý định sử dụng của khách hàng là hết sức quan trọng vì hành vi của khách hàng thường có thể được dự đoán bởi ý định của họ, đặc biệt đối với lĩnh vực công nghệ. Trong nghiên cứu này, ý định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế được hiểu là động lực thúc đẩy thực hiện hành vi sử dụng thẻ tín dụng quốc tế trong tương lai của khách hàng. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ Ý ĐỊNH SỬ DỤNG Lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ (Technology acceptance model - TAM) Tính hữu ích cảm nhận Biến bên Ý định Sử dụng thực Thái độ ngoài sử dụng tế Tính dễ sử dụng cảm nhận Hình 2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989) Năm 1989 mô hình TAM đã được thiết lập đây là một sự kế thừa của thuyết hành động hợp lý của Davis, Warshaw và Bagozzi dùng để giải thích các yếu tố quyết định chung của việc chấp nhận máy tính dẫn đến giải thích hành vi của con người dùng công nghệ máy tính cuối cùng trên một phạm vi rộng lớn.
Mô hình TAM dựa trên TRA để giải thích và đoán sự quan tâm của người dùng đối với các hệ thống thông tin khác nhau. Mục đích của mô hình này là dự đoán khả năng chấp nhận của một công cụ và xác định các sửa đổi phải được đưa vào hệ thống để làm cho nó được người dùng chấp nhận. Mô hình này gợi ý rằng khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin được xác định bởi hai yếu tố chính: tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận. Tính hữu ích cảm nhận được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc 9 sử dụng một hệ thống sẽ cải thiện hiệu suất của mình, tính dễ sử dụng cảm nhận là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ dễ dàng.
Bên cạnh đó, một số phân tích đã chứng minh rằng tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận được nhận thức có thể được coi là hai khía cạnh khác nhau (Hauser et Shugan, 1980; Larcker et Lessig, 1980; Swanson, 1987). Theo Ajzen (1975) thái độ hướng đến việc sử dụng là cảm giác tích cực hay tiêu cực về việc thực hiện hành vi mục tiêu. Ý định sử dụng chịu ảnh hưởng của thái độ cá nhân, từ đó cá nhân sẽ sử dụng hệ thống nếu họ có ý định sử dụng. Mặc khác, cấu trúc thái độ trong mô hình TAM gốc nhưng Davis và Venkatesh (1996) đã loại bỏ cấu trúc thái độ trong phiên bản cuối cùng của TAM sau khi phát hiện tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận ảnh hưởng trực tiếp đến ý định sử dụng của khách hàng.
Mô hình chấp nhận công nghệ TAM được coi là mô hình phù hợp và có ảnh hưởng nhất trong hành vi chấp nhận đổi mới nhằm giải quyết vấn đề, cách mà người dùng chấp nhận và sử dụng công nghệ. Bên cạnh đó, Karim và cộng sự (2020) cho rằng để nghiên cứu sự chấp nhận và ý định sử dụng công nghệ mới, TAM được coi là phần mở rộng có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu học thuật (Aydin và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, các biên TAM ban đầu có thể không đầy đủ những niềm tin cốt lõi ảnh hưởng đến ý định sử dụng của khách hàng, nên việc thêm một số biến bổ sung để kiểm tra tính phù hợp của TAM là cần thiết. Lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ TAM là lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu về xây dựng mô hình lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ sau này.
Chính vì vậy, nghiên cứu tác giả chọn cũng nghiên cứu dựa trên lý thuyết chấp nhận công nghệ TAM để giải thích cho ý định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế MB. 1 Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Hiệu quả mong đợi Nỗ lực mong đợi Ý định sử dụng Hành vi sử dụng Ảnh hưởng xã hội Điều kiện thuận lợi Giới Độ tuổi Kinh nghiệm Tự nguyện sử dụng Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Nguồn: Venkatesh, Morris và Davis, 2003) Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) được xây dựng bởi Venkatesh và cộng sự (2003), mô hình được phát triển với mục đích cải thiện mô hình TAM, điều tra về ý định sử dụng hệ thống thông tin của khách hàng và hành vi liên tục của chúng. Mô hình dựa trên các cơ sở mô hình trước đó: các lý thuyết TRA, TPB, TAM, mô hình động lực thúc đẩy, mô hình tích hợp TAM và TPB, mô hình sử dụng máy tính cá nhân, lý thuyết phổ biến sự đổi mới và lý thuyết nhận thức xã hội.