Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Nội dung của chương này đề cập đến tính cấp thiết của đề tài, các mục tiêu nghiên cứu của đề tài (mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể), ý nghĩa về mặt khoa và thực tiễn của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu. Nội dung của chương này là tập trung vào đề cập đến cơ sở lý thuyết liên quan các hoạt động du lịch nói chung và lý thuyết liên quan đến ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định chọn điểm du lịch của du khách.
Đồng thời, đề cập đến các mô hình nghiên cứu trước có liên quan và từ đó thiết kế mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương này đề cập đến quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu (nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức). Nội dung của phương pháp nghiên cứu 10 chính thức là đề cập đến các phương pháp chọn mẫu và phân tích các dữ liệu của nghiên cứu định lượng và đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Nội dung của chương này trình bày những kết quả mà nghiên cứu đạt được. Trong đó, quan trọng là thực hiện kiểm định thang đo các khái niệm thành phần, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và hồi quy. Sau đó, thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra các kết quả thảo luận.
Chương 5: Hàm ý quản trị và Kết luận. Nội dung của chương này chủ yếu đề cập đến những kết quả chính, mà nghiên cứu đã đạt được. Từ đó, đưa ra những hàm ý quản trị nhằm nâng cao mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định chọn Cam Ranh là điểm đến du lịch của du khách trong nước. Ngoài ra, trong chương này còn nêu ra những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
11 CHƯƠNG 2: CƠ SƠ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày các vấn đề liên quan đến hoạt động du lịch (khái niệm về du lịch, khách du lịch, điểm đến du lịch,…), cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm đến du lịch, khái quát về điểm đến du lịch Thành phố Cam Ranh – Khánh Hòa. Đề cập đến một số nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Tổng quan về du lịch, khách du lịch và điểm đến du lịch 2. Quan điểm và định nghĩa về du lịch Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2006), thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp và được la tinh hóa: tornus (đi một vòng).
Sau đó trong xuất hiện trong các ngôn ngữ khác: tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh),… Trong tiếng Việt, khái niệm du lịch xuất phát từ tiếng Hán: du - có nghĩa là đi chơi, lịch - có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi du lịch là đi chơi để nâng cao nhận thức (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006). Trong Hội nghị của Liên hợp quốc về du lịch tổ chức tại Roma (Italia) vào 21/8 – 5/9/1963, du lịch được định nghĩa là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ ( Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006).
Còn theo Điều 3 trong Luật Du lịch Việt Nam (2017), thì du lịch được hiểu là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng 12 nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Theo Điều 3 trong Luật Du lịch Việt Nam (2017), thì hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch. Hoạt động của ngành du lịch dựa trên mối quan hệ qua lại của ba yếu tố cơ bản: Khách du lịch, tài nguyên du lịch và kinh doanh du lịch. Ba yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau và có tác động qua lại với nhau.
Nếu tồn tại độc lập và riêng biệt thì ba yếu tố trên không thể tạo ra các sản phẩm du lịch. Sự kết hợp ba yếu tố trên sẽ tạo ra môi trường du lịch – nơi có hoạt động kinh doanh du lịch và có các dịch vụ phục vụ cho khách du lịch. Khách du lịch Theo Điều 3 trong Luật Du lịch Việt Nam (2017), thì khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Theo Điều 10 trong Luật Du lịch Việt Nam 2017, thì khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài.
Trong đó: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch. Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Ngoài ra, còn sự phân loại khách du lịch dựa trên các đặc trưng cụ thể về mục đích (khách du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh, mua sắm,…), theo đặc trưng và tính chất (khách du lịch sinh thái, du lịch thể thao,…), theo phương tiện đi 13 lại (khách du lịch ô tô, khách du lịch máy bay,…), theo hình thức lưu trú (khách du lịch ở khách sạn, khách du lịch ở resort,…), theo hình thức tổ chức (khách du lịch theo đoàn, khách du lịch lẻ,…), theo tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ văn hóa,.
Điểm đến du lịch Du lịch là hoạt động có hướng đích không gian. Người đi du lịch rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một địa điểm cụ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi. Điểm đến du lịch (Tourism destination) là một trong những khái niệm rất rộng và đa dạng. Điểm đến du lịch là nơi diễn ra quản trị cầu đối với du lịch và quản trị sự tác động của nó tới điểm đến.
Hay điểm đến du lịch là nơi có các yếu tố hấp dẫn, các yếu tố bổ sung và các sản phẩm kết hợp những yếu tố này để đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của du khách (Hoàng Thị Thu Hương, 2016). Theo cách tiếp cận truyền thống, điểm đến du lịch như một nơi được xác định đơn thuần bởi yếu tố địa lý hay phạm vi không gian lãnh thổ. Theo cách hiểu này, điểm đến dùng để chỉ một địa điểm có sức hút du khách bởi tính đa dạng của tài nguyên, chất lượng và một loạt các tiện nghi và các dịch vụ khác cung cấp cho khách. Điểm đến có thể là một Châu lục, một đất nước, một hòn đảo hay một thị trấn, nơi mà khách du lịch đến tham quan, nơi có thể chế chính trị và khuôn khổ pháp lý riêng biệt, và được áp dụng các kế hoạch Marketing cũng như cung cấp các sản phẩm, dịch vụ du lịch cho khách, đặc biệt là nơi đó phải được đặt tên hiệu cụ thể (Buhalis, 2000).
Điểm đến cũng được xem là một vùng địa lý được xác định bởi khách du lịch, nơi có các cơ sở vật chất kỹ thuật và các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du khách (Cooper và cộng sự, 2004). Đồng quan điểm đó, Nguyễn Văn Mạnh (2007) cho rằng điểm đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng 14 đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh tế có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Trên cơ sở khái niệm về điểm đến du lịch và xét theo tiêu chí về địa lý, Hoàng Thị Thu Hương (2016) phân chia điểm đến du lịch theo các mức độ hay qui mô cơ bản sau đây: - Các điểm đến có qui mô lớn là điểm đến của một vùng lãnh thổ hay ở cấp độ châu lục, như khu vực Đông Nam Á, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi,…; - Điểm đến vĩ mô là các điểm đến ở cấp độ của một quốc gia; - Điểm đến vi mô gồm các vùng, tỉnh, thành phố, quận, huyện và thậm chí là một thị xã, thị trấn,… Cũng theo Hoàng Thị Thu Hương (2016) thì có nhiều căn cứ để phân loại điểm đến, cụ thể như: - Căn cứ vào hình thức sở hữu: Có thể phân loại đó là điểm đến thuộc sở hữu nhà nước hay tư nhân; - Căn cứ vào vị trí: Có thể phân loại điểm đến là ở vùng biển hay vùng núi, là thành phố hay nông thôn; - Căn cứ vào giá trị tài nguyên du lịch: có thể phân loại đó là điểm đến có giá trị tài nguyên tự nhiên hay nhân văn; - Căn cứ vào đất nước: Có thể phân loại điểm đến là điểm đến du lịch là một đất nước hay một nhóm đất nước, hay có thể là một hay một nhóm đất nước, hay có thể là một khu vực; - Căn cứ vào mục đích: Có thể phân loại điểm đến sử dụng với mục đích khác nhau; - Căn cứ vào vị trí quy hoạch: Đó là điểm đến thuộc trung tâm du lịch của vùng hay là những điểm đến phụ cận. 15 Theo giác độ của những người làm kinh doanh, một số các nhà nghiên cứu khác lại có cách nhìn nhận điểm đến du lịch như một sản phẩm hay một thương hiệu mang tính tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như điều kiện thời tiết khí hậu, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất hay kiến trúc thượng tầng, các dịch vụ, đặc điểm tự nhiên và văn hóa nhằm mang lại một trải nghiệm cho du khách (Mike and Caster, 2007).
Ví dụ như Van Raaij (1986) xem điểm đến như một sản phẩm du lịch được cấu thành bởi các đặc điểm tự nhiên như khí hậu, cảnh quan, các công trình kiến trúc văn hóa-lịch sử.