Chương 1: Một số vấn đề chung về những người tham gia tố tụng trong luật tố tụng hình sự Chương 2: Quy định của pháp luật về những người tham gia tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng Chương 3: Giải pháp về hoàn thiện pháp luật và năng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về những người tham gia tố tụng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHỮNG NGƢỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm ngƣời tham gia tố tụng hình sự Nếu như LHS quy định về TNHS, tội phạm, cấu thành tội phạm, hành vi nào bị coi là tội phạm và hậu quả pháp lý đối hành vi tội phạm gây ra… thì LTTHS quy định trình tự, cách thức của những chủ thể tố tụng tham gia để giải quyết, chứng minh hành vi phạm tội cụ thể có vi phạm, đáp ứng các quy phạm LHS hay không và giải quyết các vấn đề phát sinh do hành vi phạm tội gây ra (nếu có). Đây là biểu hiện của Nhà nước, pháp luật tiến bộ, văn minh, dân chủ và nhân quyền. TTHS cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi nhưng lại vừa phải bảo đảm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những ai có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ [76, tr. Như vậy, có thể thấy rằng, trong tố tụng luôn phản ánh, chứa đựng những mối quan hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của các mối quan hệ.
TTHS là “cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự” [86, tr.786] Với định nghĩa này, ngoài Cơ quan Nhà nước đại diện trong tư pháp hình sự là các CQTHTT (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), những người trong các cơ quan này (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án); và những NTGTT (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, người phiên dịch) thì còn có đề cập đến các Cơ quan Nhà nước khác (ngoài các CQTHTT trên) và các tổ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức xã hội đã cho chúng ta thấy chủ thể tham gia TTHS là rất đa dạng, mang tính phổ quát từ các nguyên tắc của TTHS Việt Nam như: nguyên tắc “trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”, nguyên tắc “sự phối hợp của các cơ quan nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng”.v… những chủ thể này góp phần không nhỏ trong việc giải quyết VAHS sự nói chung nhưng những chủ thể này có thực hiện cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động TTHS hay không thì cần phải xem lại: cơ quan Nhà nước khác là cơ quan nào? Tất cả các cơ quan Nhà nước hay một số cơ quan Nhà nước? Theo quy định của pháp luật thì tham gia vào việc giải quyết VAHS thì chỉ có một số cơ quan được giao một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, kiểm ngư, lực lượng Cảnh sát biển và một số cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân…), tương tự đối với các tổ chức xã hội có tham gia khi NTGTT thuộc tổ chức của mình TGTT với đại diện (Đoàn thanh niên đại diện cho NTGTT dưới 18 tuổi. Trong những trường hợp như thế này họ nằm trong những NTGTT rồi. Do vậy, chúng tôi cho rằng với định nghĩa này trong từ điển đã nêu về TTHS cần phải xem lại cho phù hợp với thực tiễn pháp luật, tiến tới thống nhất về thuật ngữ này. Chúng ta có thể hiểu TTHS như sau: TTHS bao gồm toàn bộ các hoạt động của các chủ thể TTHS hướng tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người [25, tr.
Trong bất kỳ một hệ thống TTHS nào cũng đều tồn tại các nhu cầu được đặt ra bởi tính chất của tố tụng là: truy tố tội phạm và người phạm tội; bào chữa của bị can, bị cáo và luật sư của họ; hoạt động xét xử của tòa án. Từ đó, ba chức năng: buộc tội, bào chữa và xét xử luôn luôn tồn tại trong bất kỳ một loại TTHS nào. Do đó, nói chức năng tố tụng là nói đến những định hướng hoạt động trong quá trình TTHS. Trong TTHS Việt Nam hiện hành không tồn tại việc khu biệt ba chức năng tố tụng cho từng chủ thể tố tụng, chẳng hạn Tòa án đáng lẽ là cơ quan tài phán-trọng tài giữ vai trò khách quan ở giữa bên buộc tội và bào chữa thì Tòa án Việt Nam cũng đi chứng minh, cũng có chức năng khởi tố VAHS… tức là thực hiện cả chức năng buộc tội.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PLTTHS Việt Nam chia các chủ thể tham gia vào quan hệ tố tụng thành: CQTHTT, NTHTT và NTGTT đã thể hiện việc không phân biệt thật rõ ràng mục đích của các chủ thể tố tụng dẫn đến sự không rõ ràng chức năng của các chủ thể đó và trong tổng thể điều đó không tạo ra được động cơ và động lực thúc đẩy hiệu quả của TTHS, nếu xét tiêu chí của hiệu quả là xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và của công dân. Cần từ bỏ cách chia các chủ thể quan hệ tố tụng như PLTTHS như hiện nay mà phải đều là chủ thể các quan hệ tố tụng và trên cơ sở xác định rõ ràng mục đích và lợi ích của các chủ thể đó mà hình thành các bên trong quan hệ tố tụng. Các bên cần được quyền ngang nhau về khả năng đưa ra chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng. Cần tăng cường những bảo đảm cho tính công khai của hoạt động điều tra, tăng cường giám sát hoạt động điều tra theo hướng gắn công tố với điều tra như các văn kiện của Đảng và Nhà nước[76, tr.12], tác giả đồng tình với nhận định này, nhưng tác giả cũng băn khoăn nếu phân chủ thể tố tụng dựa trên chức năng tố tụng nêu trên thì một số NTGTT không biết được đưa vào bên tố tụng nào (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.
Khi nhìn vào lịch sử TTHS Việt Nam cho thấy kỹ thuật lập pháp luôn khu biệt CQTHTT, NTHTT và NTGTT thành hai chế định tương ứng thành hai chương trong PLTTHS, điều này dẫn đến nhận thức chỉ những người nào được quy định, liệt kê trong chương NTGTT mới là NTGTT hình sự, còn có được quy định, được nhắc đến trong chương khác, trong giai đoạn TTHS, ví dụ như người tố giác, người kiến nghị khởi tố hay người chứng kiến tại BLTTHS 2003 thì không phải NTGTT? Điều này cũng đã dẫn đến những hạn chế, gây khó khăn nhất định trong giải thích các quyền và nghĩa vụ trong các giai đoạn TTHS khác nhau của CQTHTT, NTHTT và cũng khó khăn với chính những NTGTT khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do vậy, tác giả cho rằng để giữ nguyên “truyền thống” mà đảm bảo được chức năng của TTHS- thể hiện một cách gián tiếp thành các bên trong tố tụng để làm được điều này chúng ta phải thay đổi, nhận thức lại về chủ thể là Tòa án, còn những NTGTT đặc biệt lưu ý đến những quyền và cơ chế bảo đảm quyền của NTGTT (đặc biệt là người bị tạm giữ, bị can bị cáo- quyền bào chữa của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com họ, quyền thu thập chứng chứ, tranh tụng tại phiên tòa.v…), bổ sung diện người mới vào chương NTGTT và nâng cao trách nhiệm của những NTHTT ở các giai đoạn tố tụng khi khi thực hiện trách nhiệm giải thích quyền và nghĩa vụ cho những NTGTT. Những NTGTT hình sự được quy định tại chương IV BLTTHS nhưng quan điểm NTGTT gồm những cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào thì cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Nguyễn Văn Tuân, hiện nay có ba quan điểm khác nhau [66, tr.129-130]: Quan điểm thứ nhất cho rằng, những NTGTT cần được hiểu theo nghĩa hẹp và bao gồm: người bị tạm giữ, bị can bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự.
Những NTGTT là những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Khi tham gia tố tụng, họ có nhiều quyền và nghĩa vụ, sự tham gia của họ có tác dụng đối với sự tiến triển và kết quả của vụ án. Theo quan điểm này thì người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và những người khác như người chứng kiến, nhà chuyên môn và bác sĩ pháp y một cách thụ động họ là những người được NTHTT “trưng dụng” để giúp làm sáng tỏ vụ án trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng. Vậy nên đưa họ vào danh sách những người được giao nhiệm vụ, được tham gia một số hoạt động tố tụng hoặc tách thành một chương riêng và đặt cho một cái tên khác cho phù hợp.
Quan điểm thứ hai cho rằng, không nên bó hẹp phạm vi những NTGTT. Theo quan điểm này, ngoài những NTGTT theo quan điểm thứ nhất còn phải kể đến người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… Những người này thực chất cũng tham gia vào hoạt động TTHS và hoạt động của họ góp phần thực hiện nhiệm vụ TTHS. Sự tham gia TTHS của họ mang tính chất hạn chế, không phải để bảo vệ lợi ích của mình mà nhằm thúc đẩy hoạt động tố tụng. Quan điểm thứ ba (hiểu theo nghĩa rộng) CQTHTT và NTHTT có góp phần hoạt động của mình vào hoạt động tố tụng hình sự không? Câu trả lời luôn là có và 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.