Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Tài sản và quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề tài sản Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 thì tài sản được hiểu bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [30, Điều 163], trong đó quyền tài sản là các "quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" [30, Điều 181]. Tuy nhiên, dưới góc độ luật hình sự, đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản thì không phải lúc nào tài sản theo quan niệm của Bộ luật dân sự cũng được coi là đối tượng của tội phạm này; bởi vì, không phải tài sản nào người phạm tội cũng có thể chiếm đoạt được từ chủ tài sản.
Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói chung cũng như tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng, phải thỏa mãn những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị sử dụng, tài sản này là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người hay nói cách khác, giá trị tài sản được tạo ra từ sức lao động của con người. Thứ hai, tài sản phải có chủ sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Hành vi phạm tội khi xâm phạm sở hữu phải tác động tới những tài sản đã được xác lập quyền sở hữu bằng những quy định pháp lý đối với một chủ sở hữu nhất 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định (có thể là tổ chức, pháp nhân hoặc cá nhân) nên chỉ tài sản nào có chủ sở hữu cụ thể mới là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu, còn tài sản vô chủ không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Thứ ba, tài sản phải có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu với nhau.
Nếu không có khả năng này thì tài sản không thuộc đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng. Ví dụ: Tác giả của tác phẩm âm nhạc, văn học nghệ thuật là chủ của các tác phẩm đó nhưng không thể chuyển đổi được, nên khi có hành vi xâm hại đến quyền tác giả thì không cấu thành tội xâm phạm sở hữu mà cấu thành tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 170a BLHS. Thứ tư, tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản thông thường, có thể mua bán trao đổi được một cách hợp pháp những tài sản có tính chất đặc biệt hoặc Nhà nước cấm tư nhân mua bán trao đổi sẽ là đối tượng của các tội phạm khác quy định trong BLHS. Ví dụ: hành chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì không cấu thành tội xâm phạm sở hữu mà cấu thành tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 230 BLHS.
Khái niệm hành vi cưỡng đoạt tài sản Để có thể hiểu rõ hơn về hành vi cưỡng đoạt tài sản, cũng cần nghiên cứu, phân tích và làm rõ một số khái niệm có liên quan như khái niệm "tài sản"; khái niệm "chiếm đoạt"; khái niệm "đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác"; khái niệm "uy hiếp tinh thần"; trên cơ sở đó, đưa ra những đặc trưng thuộc về nội hàm khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản. "Tài sản", theo nghĩa Hán Việt là khái niệm dùng để "chỉ chung tiền bạc, của cải" 17, tr. 622; hoặc "tiền của, của cải nói chung" 9, tr. 602; và là "của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng" 49, tr.
"Chiếm đoạt", theo nghĩa Hán Việt, chiếm là "lấy làm của mình"; "chiếm đoạt" là "dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình" 9, tr. 140; 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiếm là: "giữ lấy làm của mình", đoạt là cướp lấy, chiếm đoạt là "cướp lấy bằng võ lực hay quyền thế" 9, tr. 108; chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực" 49, tr. Dưới góc độ pháp luật hình sự "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình 40, tr.
366 hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm" 1, tr. Ở đây, khái niệm "quản lý" có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" 49, tr. 1363, "chủ tài sản" được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản). Hành vi chiếm đoạt tài sản có đặc điểm sau đây: Thứ nhất, xét về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản (người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó.
Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Hành vi chiếm đoạt được thể hiện dưới những dạng hành vi cụ thể khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người chiếm đoạt với tài sản chiếm đoạt cũng như vào hình thức chiếm đoạt cụ thể. Thứ hai, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản. Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt.
Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể nói đến hành vi chiếm đoạt, mới nói đến hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản. Thứ ba, xét về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có chủ đích nên lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình. Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản được coi là bắt đầu khi người phạm tội bắt đầu thực hiện việc làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản, để tạo khả năng đó cho mình. Khi người phạm tội đã làm chủ được tài sản chiếm đoạt thì lúc đó hành vi chiếm đoạt được coi là đã hoàn thành, người phạm tội coi là đã chiếm đoạt được tài sản. Dấu hiệu chiếm đoạt có thể là mục đích chiếm đoạt, là hành vi chiếm đoạt hoặc là chiếm đoạt được. "Cưỡng đoạt", theo từ điển Tiếng Việt thì "cưỡng" là "bắt ép người khác làm điều người ta không muốn làm"; "cưỡng đoạt" là "chiếm đoạt bằng lối cưỡng bức"; "cưỡng bức" là "dùng vũ lực hoặc thủ đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được" 9, tr.
Đe dọa sẽ dùng vũ lực là hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) làm cho người bị đe dọa lo sợ nếu không giao tài sản cho người phạm tội thì sẽ bị dùng sức mạnh thể chất tấn công. Thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần là những thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng ngoài việc đe dọa sẽ dùng vũ lực và thủ đoạn này sẽ uy hiếp tinh thần của người có tài sản hoặc của người có trách nhiệm về tài sản, như dọa sẽ nói cho vợ hoặc chồng của người bị hại về việc vợ hoặc chồng họ ngoại tình, dọa sẽ tố cáo việc phạm tội hoặc vi phạm đạo đức của người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về xác định nội hàm của hành vi cưỡng đoạt tài sản. Trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, Nhà xuất bản Cần Thơ xuất bản năm 2008, TS.
Phạm Văn Beo cho rằng:"Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [1, tr. Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2002 thì tội Cưỡng đoạt tài sản được định nghĩa như sau:"Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [40, tr. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng: Cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội. Như vậy, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản.