Nghiên cứu về tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về pháp lý và thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

106
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

1.1.1. Tài sản và quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề tài sản

1.1.2. Khái niệm hành vi cưỡng đoạt tài sản

1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

1.1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cưỡng đoạt tài sản

1.1.4.1. Giai đoạn từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật Hình sự năm 1985
1.1.4.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật Hình sự năm 1999
1.1.4.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 đến nay

1.2. Nghiên cứu so sánh các quy định về tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự của một số nước

1.2.1. Bộ luật Hình sự Nhật Bản

1.2.2. Bộ luật Hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

1.2.3. Bộ luật Hình sự Liên bang Nga

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH

2.1. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cưỡng đoạt tài sản

2.2. Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản

2.3. Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản

2.4. Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản

2.5. Mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản

2.6. Các trường hợp phạm tội cưỡng đoạt tài sản cụ thể

2.6.1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự

2.6.2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Hình sự

2.6.3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 135 Bộ luật Hình sự

2.6.4. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 Bộ luật Hình sự

2.7. Hình phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội cưỡng đoạt tài sản

2.8. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với một số tội phạm khác trong luật hình sự Việt Nam

2.8.1. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với tội cướp tài sản tại Điều 133 Bộ luật Hình sự

2.8.2. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại Điều 134 Bộ luật Hình sự

2.8.3. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với tội cướp giật tài sản tại Điều 136 Bộ luật Hình sự

2.8.4. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tại Điều 137 Bộ luật Hình sự

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ, MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

3.1. Thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản ở nước ta

3.2. Đánh giá, phân tích tình hình xét xử tội cưỡng đoạt tài sản trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2013

3.3. Thực tiễn xét xử các vụ án cưỡng đoạt tài sản

3.4. Một số tồn tại, bất cập trong thực tiễn xét xử và những nguyên nhân cơ bản

3.5. Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

3.5.1. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

3.5.2. Những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

3.6. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

3.6.1. Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành trong tương quan với các văn bản pháp luật khác về tội cưỡng đoạt tài sản

3.6.2. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân

3.6.3. Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và xét xử nghiêm minh tội cưỡng đoạt tài sản

3.6.4. Tăng cường quan hệ phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan

3.6.5. Tăng cường, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Tội cưỡng đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm sở hữu nghiêm trọng trong luật hình sự Việt Nam. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và an ninh xã hội. Việc quy định rõ ràng về tội cưỡng đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự là cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và tổ chức. Từ đó, tạo ra một môi trường pháp lý vững chắc, góp phần vào việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

1.1. Khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản và ý nghĩa pháp lý

Tội cưỡng đoạt tài sản được định nghĩa là hành vi dùng vũ lực, đe dọa hoặc thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ý nghĩa pháp lý của việc quy định tội này là nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và tạo ra rào cản pháp lý đối với các hành vi phạm tội.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển quy định về tội cưỡng đoạt tài sản

Quy định về tội cưỡng đoạt tài sản đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Từ những quy định sơ khai trong Bộ luật Hình sự năm 1985 đến các điều chỉnh trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và các sửa đổi, bổ sung sau này, quy định này ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tiễn xã hội.

II. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cưỡng đoạt tài sản

Để xác định một hành vi có phải là tội cưỡng đoạt tài sản hay không, cần phải xem xét các dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Những dấu hiệu này bao gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm. Việc phân tích rõ ràng các dấu hiệu này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật được chính xác và công bằng.

2.1. Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản

Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của cá nhân hoặc tổ chức. Hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu này không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người bị hại.

2.2. Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản thể hiện qua hành vi cụ thể như dùng vũ lực, đe dọa hoặc các thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài sản. Những hành vi này thường diễn ra công khai, gây ra tâm lý hoang mang trong xã hội.

2.3. Chủ thể và mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản

Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản có thể là bất kỳ cá nhân nào đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Mặt chủ quan của tội phạm này thường thể hiện qua ý thức phạm tội, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố tình thực hiện.

III. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với các tội phạm khác

Việc phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với các tội phạm khác là rất quan trọng để áp dụng đúng quy định của pháp luật. Tội cưỡng đoạt tài sản có những đặc điểm riêng biệt, khác với các tội như cướp tài sản hay bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

3.1. So sánh tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp tài sản

Tội cướp tài sản thường sử dụng vũ lực ngay từ đầu để chiếm đoạt tài sản, trong khi tội cưỡng đoạt tài sản có thể bắt đầu bằng các hành vi đe dọa hoặc lừa đảo. Sự khác biệt này ảnh hưởng đến mức độ xử lý hình sự.

3.2. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản và tội bắt cóc

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thường liên quan đến việc giữ người trái pháp luật, trong khi tội cưỡng đoạt tài sản không nhất thiết phải có hành vi giữ người. Điều này tạo ra sự khác biệt trong cách thức thực hiện và hậu quả pháp lý.

IV. Thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản tại Việt Nam

Thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản cho thấy nhiều vấn đề phức tạp trong việc áp dụng pháp luật. Các vụ án thường gặp khó khăn trong việc xác định dấu hiệu pháp lý và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Việc phân tích các vụ án điển hình sẽ giúp rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác xét xử.

4.1. Đánh giá tình hình xét xử tội cưỡng đoạt tài sản

Tình hình xét xử tội cưỡng đoạt tài sản trong những năm gần đây cho thấy sự gia tăng về số lượng vụ án. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong việc áp dụng hình phạt và xử lý các tình huống cụ thể.

4.2. Một số vụ án điển hình về tội cưỡng đoạt tài sản

Phân tích một số vụ án điển hình sẽ giúp làm rõ hơn về cách thức thực hiện tội cưỡng đoạt tài sản, cũng như những khó khăn trong việc điều tra và xét xử. Những vụ án này thường có tính chất phức tạp và cần sự chú ý đặc biệt từ các cơ quan chức năng.

V. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội cưỡng đoạt tài sản

Để nâng cao hiệu quả trong việc phòng ngừa và xử lý tội cưỡng đoạt tài sản, cần có những giải pháp hoàn thiện pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành sẽ giúp tạo ra một khung pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về tội phạm này.

5.1. Cần thiết phải sửa đổi bổ sung quy định pháp luật

Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về tội cưỡng đoạt tài sản là cần thiết để đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống trong pháp luật hình sự. Điều này sẽ giúp các cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc áp dụng và thực thi pháp luật.

5.2. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về tội cưỡng đoạt tài sản sẽ giúp nâng cao nhận thức của người dân, từ đó góp phần phòng ngừa tội phạm hiệu quả hơn. Các chương trình giáo dục pháp luật cần được triển khai rộng rãi và thường xuyên.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về tội cưỡng đoạt tài sản

Tội cưỡng đoạt tài sản là một vấn đề nghiêm trọng trong xã hội hiện nay. Việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến tội này là cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. Tương lai, cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để phòng ngừa và xử lý hiệu quả tội phạm này.

6.1. Tầm quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật

Việc hoàn thiện pháp luật về tội cưỡng đoạt tài sản không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người dân mà còn góp phần vào việc xây dựng một xã hội công bằng, văn minh. Cần có sự đồng bộ giữa các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng.

6.2. Triển vọng tương lai trong công tác phòng ngừa tội phạm

Triển vọng tương lai trong công tác phòng ngừa tội cưỡng đoạt tài sản phụ thuộc vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Cần xây dựng một môi trường pháp lý vững chắc để ngăn chặn các hành vi phạm tội.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Tài sản và quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề tài sản Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 thì tài sản được hiểu bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [30, Điều 163], trong đó quyền tài sản là các "quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" [30, Điều 181]. Tuy nhiên, dưới góc độ luật hình sự, đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản thì không phải lúc nào tài sản theo quan niệm của Bộ luật dân sự cũng được coi là đối tượng của tội phạm này; bởi vì, không phải tài sản nào người phạm tội cũng có thể chiếm đoạt được từ chủ tài sản.

Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói chung cũng như tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng, phải thỏa mãn những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị sử dụng, tài sản này là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người hay nói cách khác, giá trị tài sản được tạo ra từ sức lao động của con người. Thứ hai, tài sản phải có chủ sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Hành vi phạm tội khi xâm phạm sở hữu phải tác động tới những tài sản đã được xác lập quyền sở hữu bằng những quy định pháp lý đối với một chủ sở hữu nhất 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định (có thể là tổ chức, pháp nhân hoặc cá nhân) nên chỉ tài sản nào có chủ sở hữu cụ thể mới là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu, còn tài sản vô chủ không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Thứ ba, tài sản phải có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu với nhau.

Nếu không có khả năng này thì tài sản không thuộc đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng. Ví dụ: Tác giả của tác phẩm âm nhạc, văn học nghệ thuật là chủ của các tác phẩm đó nhưng không thể chuyển đổi được, nên khi có hành vi xâm hại đến quyền tác giả thì không cấu thành tội xâm phạm sở hữu mà cấu thành tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 170a BLHS. Thứ tư, tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản thông thường, có thể mua bán trao đổi được một cách hợp pháp những tài sản có tính chất đặc biệt hoặc Nhà nước cấm tư nhân mua bán trao đổi sẽ là đối tượng của các tội phạm khác quy định trong BLHS. Ví dụ: hành chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì không cấu thành tội xâm phạm sở hữu mà cấu thành tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 230 BLHS.

Khái niệm hành vi cưỡng đoạt tài sản Để có thể hiểu rõ hơn về hành vi cưỡng đoạt tài sản, cũng cần nghiên cứu, phân tích và làm rõ một số khái niệm có liên quan như khái niệm "tài sản"; khái niệm "chiếm đoạt"; khái niệm "đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác"; khái niệm "uy hiếp tinh thần"; trên cơ sở đó, đưa ra những đặc trưng thuộc về nội hàm khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản. "Tài sản", theo nghĩa Hán Việt là khái niệm dùng để "chỉ chung tiền bạc, của cải" 17, tr. 622; hoặc "tiền của, của cải nói chung" 9, tr. 602; và là "của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng" 49, tr.

"Chiếm đoạt", theo nghĩa Hán Việt, chiếm là "lấy làm của mình"; "chiếm đoạt" là "dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình" 9, tr. 140; 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiếm là: "giữ lấy làm của mình", đoạt là cướp lấy, chiếm đoạt là "cướp lấy bằng võ lực hay quyền thế" 9, tr. 108; chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực" 49, tr. Dưới góc độ pháp luật hình sự "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình 40, tr.

366 hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm" 1, tr. Ở đây, khái niệm "quản lý" có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" 49, tr. 1363, "chủ tài sản" được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản). Hành vi chiếm đoạt tài sản có đặc điểm sau đây: Thứ nhất, xét về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản (người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó.

Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Hành vi chiếm đoạt được thể hiện dưới những dạng hành vi cụ thể khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người chiếm đoạt với tài sản chiếm đoạt cũng như vào hình thức chiếm đoạt cụ thể. Thứ hai, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản. Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt.

Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể nói đến hành vi chiếm đoạt, mới nói đến hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản. Thứ ba, xét về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có chủ đích nên lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình. Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt.

Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản được coi là bắt đầu khi người phạm tội bắt đầu thực hiện việc làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản, để tạo khả năng đó cho mình. Khi người phạm tội đã làm chủ được tài sản chiếm đoạt thì lúc đó hành vi chiếm đoạt được coi là đã hoàn thành, người phạm tội coi là đã chiếm đoạt được tài sản. Dấu hiệu chiếm đoạt có thể là mục đích chiếm đoạt, là hành vi chiếm đoạt hoặc là chiếm đoạt được. "Cưỡng đoạt", theo từ điển Tiếng Việt thì "cưỡng" là "bắt ép người khác làm điều người ta không muốn làm"; "cưỡng đoạt" là "chiếm đoạt bằng lối cưỡng bức"; "cưỡng bức" là "dùng vũ lực hoặc thủ đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được" 9, tr.

Đe dọa sẽ dùng vũ lực là hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) làm cho người bị đe dọa lo sợ nếu không giao tài sản cho người phạm tội thì sẽ bị dùng sức mạnh thể chất tấn công. Thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần là những thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng ngoài việc đe dọa sẽ dùng vũ lực và thủ đoạn này sẽ uy hiếp tinh thần của người có tài sản hoặc của người có trách nhiệm về tài sản, như dọa sẽ nói cho vợ hoặc chồng của người bị hại về việc vợ hoặc chồng họ ngoại tình, dọa sẽ tố cáo việc phạm tội hoặc vi phạm đạo đức của người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về xác định nội hàm của hành vi cưỡng đoạt tài sản. Trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, Nhà xuất bản Cần Thơ xuất bản năm 2008, TS.

Phạm Văn Beo cho rằng:"Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [1, tr. Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2002 thì tội Cưỡng đoạt tài sản được định nghĩa như sau:"Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [40, tr. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng: Cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội. Như vậy, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam: Nghiên cứu và phân tích" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến tội cưỡng đoạt tài sản, phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm và thực tiễn áp dụng luật. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về khái niệm và hình phạt liên quan đến tội này mà còn chỉ ra những thách thức trong việc thực thi pháp luật tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến luật hình sự, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử tại tỉnh tuyên quang, nơi phân tích các tội phạm liên quan đến trẻ em. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học tội giết người theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử tại tỉnh nam định cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các tội phạm nghiêm trọng trong luật hình sự. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ vnu ls các tội phạm về hối lộ theo luật hình sự việt nam và công ước quốc tế của liên hiệp quốc về chống tham nhũng, để có cái nhìn tổng quát hơn về các tội phạm liên quan đến tham nhũng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về luật hình sự Việt Nam.