Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Thông tin - Thư viện của tác giả Bàn Thị Năm (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Thị Quý) tiếp cận vấn đề đảm bảo quyền tiếp cận thông tin cho nhóm người dùng tin đặc biệt tại hệ thống thư viện công cộng Thủ đô.

Bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài: Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học và giáo dục lớn, nơi tập trung nhiều cơ quan thông tin - thư viện hàng đầu, tiêu biểu là Thư viện Hà Nội. Trong các nhóm độc giả được phục vụ, người khiếm thị thuộc nhóm người dùng tin đặc biệt gặp nhiều rào cản về thể chất, khả năng di chuyển và giao tiếp xã hội. Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ của hệ thống thư viện đối với đối tượng này:

  • Khoản 4 Điều 6 Pháp lệnh Thư viện khẳng định: "Người khiếm thị được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện bằng chữ nổi hoặc các vật mang tin đặc biệt".
  • Khoản 4 Điều 2 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện nêu rõ: "Thư viện công cộng có trách nhiệm phối hợp với Hội người mù xây dựng bộ phận sách, báo bằng chữ nổi và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ người khiếm thị".

Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nhu cầu thông tin ngày càng biến đổi của người khiếm thị, nguồn lực thông tin và dịch vụ thư viện nếu chậm đổi mới sẽ không đáp ứng được yêu cầu thực tế. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng nhu cầu và đánh giá năng lực đáp ứng của Thư viện Hà Nội là đòi hỏi cấp thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng phục vụ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về nhu cầu tin và người dùng tin đặc biệt (người khiếm thị) trong hoạt động thông tin - thư viện.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng nhu cầu tin của người khiếm thị và đánh giá khả năng đáp ứng thông tin của Thư viện Hà Nội.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị khoa học nhằm nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin khiếm thị của Thư viện Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng nhu cầu tin và hoạt động phục vụ người dùng tin khiếm thị tại Thư viện Hà Nội (bao gồm hai cơ sở 47 Bà Triệu và 2B Quang Trung) tại thời điểm khảo sát năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng:

  • Nhu cầu và nhu cầu tin: Đề tài dựa trên quan điểm của tâm lý học Mác-xít và Từ điển Bách khoa Việt Nam, xác định nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì và phát triển hoạt động sống. Nhu cầu tin được phân loại theo 3 giai đoạn vòng đời và 3 cấp độ: cá nhân, tập thể, cộng đồng.
  • Các khái niệm liên quan: Yêu cầu tin (gồm 4 loại: thư mục, tài liệu, dữ kiện, kỹ thuật); sở thích tin; người dùng tin; người khiếm thị. Về khái niệm người khiếm thị, tác giả dẫn định nghĩa của Wikipedia và nghiên cứu của TS. Gillian Burrington (Đại học Bách khoa Manchester), phân biệt rõ giữa người mù hoàn toàn (mất nhận thức sáng tối) và người khiếm thị/suy giảm thị lực (visually impaired - vẫn còn thị lực từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối).
  • Thuộc tính của nhu cầu tin: Tính xã hội, tính cơ động và tính bền vững; cùng 6 yếu tố tác động (hoàn cảnh lịch sử - xã hội, nghề nghiệp, trình độ học vấn, lứa tuổi, giới tính, sở thích cá nhân).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Cơ sở phương pháp luận: Phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thông tin - thư viện và bảo trợ người khuyết tật (Pháp lệnh Thư viện, Luật Người khuyết tật).
  • Các phương pháp cụ thể:
    1. Phương pháp nghiên cứu, tập hợp và phân tích tài liệu: Kế thừa các công trình của Nguyễn Ngọc Nguyên (2001), Nguyễn Thị Đào (2003), Nguyễn Thị Bắc (2005), Hồ Thị Thúy Chinh (2001) và tài liệu hội thảo chuyên môn của Vụ Thư viện (2008), Quỹ Force (2010).
    2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát gồm 11 câu hỏi trọng tâm; phát ra 110 phiếu và thu về 110 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 100%) từ độc giả khiếm thị.
    3. Phương pháp phỏng vấn sâu và trao đổi mạn đàm: Trực tiếp phỏng vấn cán bộ quản lý, thủ thư và độc giả khiếm thị tại Thư viện Hà Nội và Trường Phổ thông cơ sở (PTCS) Nguyễn Đình Chiểu.
    4. Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế: Quan sát, ghi nhận hiện trạng phòng đọc, kho tài liệu đặc thù và quy trình luân chuyển sách tại Thư viện Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận của hoạt động thông tin - thư viện đối với người khiếm thị và phân tích các nguồn lực hiện có của Thư viện Hà Nội:

  • Lịch sử hình thành và phát triển của Thư viện Hà Nội: Tiền thân là "Phòng đọc sách nhân dân" thành lập ngày 15/10/1956, đến tháng 1/1959 đổi tên thành "Thư viện nhân dân Hà Nội" tại 47 Bà Triệu. Ngày 01/8/2009, thư viện hợp nhất với Thư viện tỉnh Hà Tây, mở rộng quy mô thành 2 cơ sở: 47 Bà Triệu (quận Hoàn Kiếm) và 2B Quang Trung (quận Hà Đông).
  • Cơ cấu tổ chức và nhân sự: Thư viện có 69 cán bộ (50 biên chế, 19 hợp đồng). Về trình độ: 46 cán bộ có trình độ đại học ngành Thông tin - Thư viện, 07 cử nhân Công nghệ thông tin, 01 cử nhân Ngoại ngữ, 03 đại học ngành khác và 06 chưa qua đào tạo. Bộ phận phục vụ người khiếm thị trực thuộc Phòng Phục vụ bạn đọc.
  • Cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin: Trụ sở 47 Bà Triệu cao 29,7m gồm 8 tầng nổi và 1 tầng hầm, diện tích sàn 6.161 m². Phòng đọc khiếm thị được bố trí 20 chỗ ngồi. Hệ thống CNTT gồm khoảng 40 máy tính, 04 máy in (3 máy in laser, 1 máy in kim), sử dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol (chuyển đổi từ CDS/ISIS).
  • Nguồn lực thông tin phục vụ người khiếm thị:
    • Tài liệu chữ nổi (Braille): 2.531 cuốn, được đặt gia công qua Thành hội Người mù Hà Nội với đơn giá 3.000 đồng/trang (bình quân 1 trang sách chữ sáng tương đương 4 trang chữ nổi Braille).
    • Sách nói (Audiobooks): 70 đĩa CD-ROM và 1.911 cuộn băng cassette do thư viện tự ghi âm sản xuất hoặc tiếp nhận từ nguồn biếu tặng.

Chương 2: Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội

Chương này trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực chứng từ 110 người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội, phân tích đa chiều về đặc điểm nhân khẩu học, nhu cầu và mức độ thỏa mãn thông tin:

  • Tổng quan đối tượng khiếm thị: Cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật về mắt (chiếm ~6% dân số). Tại Hà Nội có 12.000 người khiếm thị trên tổng số 60.052 hội viên Hội Người mù cả nước (số liệu 12/2010), trong đó khoảng 600 người có nhu cầu đọc sách báo thường xuyên và hơn 100 người có khả năng truy cập Internet.
  • Cơ cấu mẫu khảo sát (n = 110): Phân theo độ tuổi gồm dưới 18 tuổi (9,09%), từ 18-25 tuổi (25,45%), từ 26-45 tuổi (41,82%), từ 46-60 tuổi (20,00%), trên 60 tuổi (3,64%). Trình độ học vấn phân bổ từ mù chữ (9 người), tiểu học (22 người), THCS (37 người), THPT (29 người), đại học (12 người) đến sau đại học (1 người).
Nhóm tuổi Tỷ lệ (%) Mục đích sử dụng chính Thời gian đọc phổ biến Thói quen tra cứu chính
Dưới 18 tuổi 9,09% Học tập (100%) 3h - 4h (80%) Nhờ người sáng/bạn bè (100%)
18 - 25 tuổi 25,45% Học tập (100%), Nghiên cứu (50%) 3h - 4h (35,72%) Tự tìm qua danh mục gửi về cơ sở (57,71%)
26 - 45 tuổi 41,82% Học tập (83,33%), Nghiên cứu (83,33%) 3h - 4h (43,70%) Nhờ cán bộ thư viện (54,55%)
46 - 60 tuổi 20,00% Nghiên cứu (88,89%), Học tập (60%) 3h - 4h (36,73%) Tự tìm qua danh mục (57,91%) / Nhờ thủ thư (40,91%)
Trên 60 tuổi 3,64% Giải trí (100%) 3h - 4h (50%), >4h (25%) Nhờ cán bộ thư viện (100%)
  • Nội dung và loại hình tài liệu có nhu cầu cao:
    • Nội dung: Tài liệu văn học và lịch sử được quan tâm nhiều nhất ở hầu hết các lứa tuổi; nhóm trung niên và cao tuổi có nhu cầu đặc thù về tài liệu y học, chăm sóc sức khỏe; nhóm thanh niên quan tâm đến giáo dục giới tính (77,77% ở trình độ THPT).
    • Ngôn ngữ: Tiếng Việt chiếm ưu thế tuyệt đối (92,73%), tiếng Anh chiếm 13,91%, tiếng Nga và tiếng Trung chiếm 3,64%.
    • Loại hình tài liệu: Sách chữ nổi Braille chiếm 80,4% nhu cầu sử dụng; sách nói chiếm 63,6%.
    • Hình thức phục vụ: Phục vụ lưu động là hình thức được người trưởng thành lựa chọn nhiều nhất (từ 43,48% đến 75%); nhóm học sinh dưới 18 tuổi (Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu) chọn hình thức mượn về nhà (100%).
  • Thực trạng đáp ứng của Thư viện Hà Nội: Thư viện thực hiện luân chuyển sách định kỳ hàng quý tới 15/29 cơ sở Hội người mù quận/huyện và 01 chi hội trực thuộc. Định mức luân chuyển từ 4-8 tên sách/lần (tương đương 30-50 cuốn tùy quy mô cơ sở). Ngoài ra, thư viện phối hợp tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề ("Kinh tế thế giới", "Thời sự quốc tế", "Khả năng của người mù").
  • Đánh giá của bạn đọc về chất lượng dịch vụ:
Tiêu chí đánh giá Mức độ / Ý kiến Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Thái độ phục vụ của thủ thư Rất nhiệt tình 54 49,10%
Nhiệt tình 36 32,72%
Chưa nhiệt tình 20 18,18%
Mức độ đáp ứng tài liệu Tốt 61 55,46%
Đạt yêu cầu 35 31,82%
Chưa đạt yêu cầu 14 12,72%

Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp đáp ứng nhu cầu tin của người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội

Chương 3 tổng kết các ưu thế, hạn chế của hệ thống và đề xuất lộ trình giải pháp khả thi:

  • Đánh giá ưu điểm: Duy trì hiệu quả phương thức phục vụ lưu động; sản xuất và cập nhật nguồn sách nói; cán bộ tâm huyết; nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Thiếu công cụ tra cứu chuyên biệt cho người khiếm thị, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào danh mục in sẵn hoặc thủ thư đọc tên sách.
    • Cơ sở vật chất chuyên dụng còn thiếu thốn: chỉ có 01 máy trợ thị nhưng đã hỏng, chưa có tài liệu chữ phóng to (chữ đại) cho người nhược thị.
    • Mất cân đối dịch vụ giữa hai cơ sở: Cơ sở 47 Bà Triệu đảm nhận toàn bộ hoạt động, cơ sở 2B Quang Trung (Hà Đông) chưa có phòng đọc và nhân sự phục vụ khiếm thị, dẫn đến việc đổi sách lưu động tại khu vực Hà Tây cũ bị chậm (lên tới 4 tháng/lần).
    • Ngân sách bổ sung tài liệu khiếm thị hạn hẹp (khoảng 30 triệu đồng/năm).
    • Nhân lực mỏng: Chỉ có 01 Phó Giám đốc phụ trách, 01 kỹ sư tin học và 01 cán bộ kiêm nhiệm.
Giải pháp được khảo sát Rất cần thiết (%) Cần thiết (%) Không cần thiết (%)
Xây dựng công cụ tra cứu chuyên dụng 80,9% 18,9% 0,2%
Bổ sung tài liệu chữ nổi Braille 51,8% 46,4% 1,8%
Tăng cường sản xuất sách nói 45,9% 51,3% 2,8%
Cải tiến hình thức phục vụ 40,0% 54,5% 5,5%
Tăng tần suất luân chuyển sách báo 46,4% 50,0% 3,6%
Chú trọng đối tượng thiếu nhi khiếm thị 40,1% 56,3% 3,6%
Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động 39,9% 57,3% 2,8%

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Phác thảo bức tranh thực chứng toàn diện về nhân khẩu học và thói quen thông tin của người khiếm thị Hà Nội qua mẫu khảo sát 110 người: 41,82% ở độ tuổi lao động (26-45 tuổi); 80,4% có nhu cầu dùng sách Braille và 63,6% dùng sách nói; thời gian đọc trung bình từ 3-4 giờ/ngày.
  • Làm rõ hiện trạng cơ sở vật chất và quy mô kho sách chuyên biệt của Thư viện Hà Nội tại thời điểm khảo sát: 2.531 cuốn sách Braille, 1.911 băng cassette, 70 CD-ROM sách nói; kinh phí bổ sung hàng năm đạt 30 triệu đồng; phục vụ thường xuyên tới 15/29 cơ sở Hội người mù quận/huyện.
  • Xác lập tỷ lệ hài lòng của bạn đọc: 55,46% đánh giá mức độ đáp ứng tài liệu ở mức tốt; 81,82% đánh giá thái độ phục vụ của cán bộ từ nhiệt tình đến rất nhiệt tình.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

  1. Phát triển nguồn lực thông tin: Đa dạng hóa nguồn kinh phí ngoài ngân sách 30 triệu đồng/năm; liên kết chặt chẽ với Thành hội Người mù Hà Nội và Trung ương Hội Người mù Việt Nam để chuyển dạng tài liệu chữ sáng sang Braille; huy động tình nguyện viên thu âm sách nói; bổ sung máy trợ thị và sách chữ đại cho người nhược thị.
  2. Xây dựng bộ máy tra cứu: Thiết lập hệ thống mục lục phích chữ nổi truyền thống tại chỗ; về lâu dài, nghiên cứu ứng dụng mô hình phân hệ tra cứu trực tuyến ViOPAC (tham khảo từ Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh tích hợp trên phần mềm Libol) sử dụng phím tắt, tương thích với phần mềm đọc màn hình Sao Mai Browser hoặc Web Reader.
  3. Cải tiến quy trình phục vụ: Rút ngắn chu kỳ luân chuyển sách lưu động từ 3 tháng/lần xuống 1 tháng/lần; mở rộng thời gian mượn về nhà; triển khai dịch vụ đón tiếp độc giả khiếm thị tại cổng thư viện.
  4. Mở rộng mạng lưới cơ sở: Khẩn trương thành lập phòng khiếm thị tại cơ sở 2B Quang Trung (Hà Đông) để phục vụ địa bàn Hà Tây cũ; nhân rộng mô hình "túi sách" về cấp xã/phường.
  5. Kiện toàn đội ngũ nhân lực: Tuyển dụng bổ sung tối thiểu 02 cán bộ chuyên trách; tổ chức tập huấn chuyên môn và cử cán bộ học tập mô hình phục vụ người khiếm thị tại Thư viện KHTH TP. Hồ Chí Minh.
  6. Phục vụ trẻ em khiếm thị: Hợp tác với Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu; bổ sung tài liệu đồ họa nổi, nhạc nổi; tổ chức các cuộc thi đọc sách vào các ngày kỷ niệm (3/12, 18/4, 1/6).
  7. Marketing và đào tạo người dùng tin: Đẩy mạnh tiếp thị tài liệu qua tọa đàm, bản tin; hướng dẫn người khiếm thị kỹ năng khai thác tài liệu qua tạp chí Đời mới và cổng thông tin điện tử.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn:

  • Về lý luận: Góp phần bổ sung và cụ thể hóa lý luận về nhu cầu tin và công tác phục vụ nhóm người dùng tin đặc biệt trong hệ thống thông tin - thư viện công cộng Việt Nam.
  • Về thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát gốc có giá trị định hướng chính sách phát triển nguồn tin, thiết kế dịch vụ chuyên biệt cho Thư viện Hà Nội và là tài liệu tham khảo cho hệ thống thư viện tỉnh/thành phố trên toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện trên quy mô khảo sát 110 phiếu tại địa bàn Hà Nội; dữ liệu phản ánh thực trạng cơ sở vật chất, công nghệ và kinh phí tại thời điểm năm 2011 (khi thư viện mới hoàn tất sáp nhập với Thư viện tỉnh Hà Tây và bắt đầu áp dụng phần mềm Libol).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thư viện chuyên ngành, thư viện trường học đặc thù; nghiên cứu sâu giải pháp tích hợp các công nghệ trợ tiếp kỹ thuật số hiện đại (màn hình chữ nổi điện tử, sách nói kỹ thuật số định dạng DAISY, cổng thư viện số hỗ trợ tiếp cận web theo chuẩn quốc tế).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học ngành Khoa học Thông tin - Thư viện, Quản lý Thông tin, Công tác Xã hội; cán bộ quản lý và thủ thư tại các thư viện công cộng, thư viện đa phương tiện.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Phương pháp luận thiết kế bảng hỏi và quy trình khảo sát nhu cầu tin của nhóm độc giả khuyết tật.
    • Mô hình tổ chức dịch vụ thư viện lưu động và kinh nghiệm điều phối tài liệu chuyên biệt (sách Braille, sách nói cassette/CD) giữa thư viện trung tâm với các tổ chức bảo trợ người khiếm thị tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Thư viện Hà Nội sở hữu số lượng tài liệu chuyên biệt phục vụ người khiếm thị là bao nhiêu tại thời điểm nghiên cứu? Theo số liệu khóa luận công bố năm 2011, thư viện lưu giữ 2.531 cuốn sách chữ nổi Braille (đặt sản xuất với đơn giá 3.000 đồng/trang), 70 đĩa CD-ROM và 1.911 cuộn băng cassette sách nói.

2. Độc giả khiếm thị tại Hà Nội có nhu cầu sử dụng loại hình tài liệu nào nhiều nhất? Khảo sát 110 người khiếm thị cho thấy 80,4% có nhu cầu sử dụng sách chữ nổi Braille và 63,6% có nhu cầu sử dụng sách nói (audiobook).

3. Khó khăn lớn nhất trong công tác tra cứu tài liệu của người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội là gì? Thư viện chưa có bộ máy tra cứu chuyên biệt (như mục lục chữ nổi hay mục lục điện tử có giọng đọc), khiến độc giả phụ thuộc hoàn toàn vào danh mục in sẵn gửi về cơ sở (chiếm 57,71% ở độ tuổi 18-25) hoặc phải nhờ thủ thư đọc tên sách (chiếm 54,55% ở độ tuổi 26-45 và 100% ở độ tuổi trên 60). Có 80,9% độc giả đánh giá việc xây dựng công cụ tra cứu là giải pháp rất cần thiết.

4. Khóa luận đề xuất mô hình tra cứu điện tử nào để giải quyết rào cản tiếp cận thông tin? Tác giả đề xuất Thư viện Hà Nội nghiên cứu áp dụng mô hình phân hệ ViOPAC (đang triển khai tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh tích hợp trong phần mềm Libol), hỗ trợ tra cứu bằng phím tắt và phát âm giọng đọc tương thích với trình duyệt Sao Mai Browser hoặc Web Reader.

5. Đội ngũ nhân lực trực tiếp phục vụ người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội có cơ cấu ra sao? Nhân sự nòng cốt phục vụ bạn đọc khiếm thị gồm 03 người: 01 Phó Giám đốc phụ trách, 01 kỹ sư tin học và 01 cán bộ thư viện kiêm nhiệm. Tác giả kiến nghị cần bổ sung tối thiểu 02 cán bộ chuyên trách để đáp ứng khối lượng công việc mở rộng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bàn Thị Năm đã giải quyết thấu đáo vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu tin cùng năng lực đáp ứng thông tin cho người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội. Dựa trên số liệu khảo sát thực chứng từ 110 độc giả khiếm thị, công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn về công cụ tra cứu, ngân sách bổ sung tài liệu và sự chênh lệch dịch vụ giữa hai cơ sở sau sáp nhập địa giới hành chính. Hệ thống 8 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả phục vụ bạn đọc khiếm thị và thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận tri thức tại hệ thống thư viện công cộng Thủ đô.