Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống thông tin - thư viện, nguồn tài liệu truyền thống chủ yếu được xây dựng nhằm phục vụ người sáng mắt. Người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng gặp rất nhiều rào cản trong việc tiếp cận tri thức, xóa mù chữ và học tập nâng cao trình độ. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố năm 2011 được trích dẫn trong công trình, toàn cầu có khoảng 285 triệu người suy giảm thị lực (gồm 246 triệu người thị lực kém và 39 triệu người mù hoàn toàn), trong đó 90% sống tại các quốc gia nghèo. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 2 triệu người mù lòa (1/3 là người nghèo không có điều kiện chữa trị, 83% có thể phòng chữa được với nguyên nhân hàng đầu là bệnh đục thể thủy tinh chiếm 66,1%). Khảo sát từ dự án TamhonVietNam.net (2009) cho thấy tỷ lệ học sinh khiếm thị được đi học trên cả nước chỉ đạt 7%. Trước yêu cầu thực tiễn về việc bảo đảm quyền bình đẳng tiếp cận thông tin và hòa nhập cộng đồng cho người khiếm thị, đề tài "Nguồn tin cho người khiếm thị Việt Nam — Thực trạng và phát triển" được thực hiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Phân tích cơ sở lý luận về người dùng tin khiếm thị, đặc điểm nhu cầu tin và các phương thức tiếp cận thông tin chuyên biệt.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xây dựng, xử lý và phục vụ nguồn tin (đặc biệt là sách chữ nổi Braille và sách nói) tại hệ thống thư viện Việt Nam.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và phương hướng phát triển nguồn tin phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của người dùng tin khiếm thị.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguồn tin dành cho người khiếm thị (sách chữ nổi, sách nói băng từ/đĩa CD/kỹ thuật số DAISY, tài liệu điện tử) và hoạt động đáp ứng nhu cầu tin của nhóm đối tượng này.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế tại hai đơn vị đại diện gồm Thư viện Trường Phổ thông cơ sở Nguyễn Đình Chiểu (Hà Nội) và Phòng khiếm thị thuộc Thư viện Hà Nội (47 Bà Triệu).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và tư liệu khảo sát được tổng hợp từ các hoạt động thực tế đến mốc thời gian hoàn thành khóa luận (tháng 2 năm 2012).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên các cơ sở lý thuyết, khái niệm và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:

  • Văn bản pháp quy: Pháp lệnh Thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10, đặc biệt là Khoản 4 Điều 6 Chương II quy định quyền của người khiếm thị được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện bằng chữ nổi hoặc các vật mang tin đặc biệt.
  • Khái niệm chuyên ngành:
    • Khái niệm về người khiếm thị theo Từ điển Tiếng Việt, Bách khoa toàn thư Wikipedia và định nghĩa của TS. Gillian Burrington (Đại học Bách khoa Manchester), phân định rõ giữa người mù hoàn toàn (không có khả năng nhận thức sáng tối) và người nhược thị/khiếm thị (thị lực suy giảm ở các mức độ khác nhau).
    • Khái niệm về nhu cầu tin (NCT), người dùng tin (NDT) và phân loại nhu cầu tin theo vòng đời (chưa đến trường, đào tạo, làm việc) và theo chủ thể (cá nhân, tập thể, cộng đồng).
    • Khái niệm về sách nói (Audiobook/Spoken word album), định dạng chuẩn kỹ thuật số DAISY và các phần mềm chuyên dụng hỗ trợ người khiếm thị (phần mềm tiếng Việt NDC, VCL, Mata, VMV; phần mềm tiếng Anh Jaws, Duxbury; thiết bị đọc Victor Reader, máy trợ thị SmartView).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp luận chung: Vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo của Nhà nước về hoạt động Thông tin - Thư viện.
    • Phương pháp cụ thể: Phương pháp nghiên cứu tổng hợp tài liệu; phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, thủ thư và bạn đọc; phương pháp quan sát điều tra thực tế tại các điểm phục vụ.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê từ Bộ Y tế, Bệnh viện Mắt Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (TS. Ôn Tuấn Bảo), Báo cáo tổng kết 10 năm hợp tác Quỹ FORCE (Hà Lan) giai đoạn 2000 - 2010 của Vụ Thư viện (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), cùng số liệu hoạt động nội bộ thu thập trực tiếp tại Thư viện PTCS Nguyễn Đình Chiểu và Thư viện Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thực trạng chung về người dùng tin khiếm thị, nhu cầu tin của họ và khả năng đáp ứng nguồn tin trong các thư viện hiện nay

Chương 1 hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về người khiếm thị và các rào cản thông tin:

  • Đặc điểm nhân khẩu học và hoàn cảnh sống: Trích dẫn báo cáo của TS. Ôn Tuấn Bảo, 95,85% người tàn tật sống cùng gia đình; 3,31% sống độc thân; 0,22% sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội; 20% thuộc nhóm đa tật. Tỷ lệ chưa biết chữ chiếm 35,58% toàn quốc (khu vực nông thôn là 36,9%); 97,64% không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Về nguyện vọng, 48,5% mong muốn được hỗ trợ vốn tự tạo việc làm, 23,9% muốn phục hồi chức năng, 13,56% cần bố trí việc làm và 4,08% muốn học nghề (tổng nhu cầu việc làm và đào tạo chiếm 66,14%).
  • Đặc điểm nhu cầu tin: Người khiếm thị có nhu cầu đa dạng về nội dung: sách giáo khoa phổ thông, sách học ngoại ngữ, văn học nghệ thuật, chính trị - xã hội, âm nhạc, y học cổ truyền, tin học và hướng nghiệp dạy nghề thủ công. Về loại hình, gồm sách chữ nổi Braille (chủ yếu phục vụ người mù bẩm sinh, học sinh học đọc - viết), sách in chữ lớn cho người nhược thị và sách nói (CD, băng cassette, file âm thanh) phù hợp với phần lớn các nhóm độ tuổi.
  • Khó khăn trong tiếp cận tri thức: Tỷ lệ tài liệu toàn cầu được chuyển đổi sang định dạng tiếp cận cho người khiếm thị chỉ đạt 2% - 5%, tại Việt Nam con số này không đáng kể. Việc xuất bản sách chữ nổi Braille gặp trở ngại lớn do thiếu sự thống nhất về ký hiệu giữa các miền (do nguyên bản Latinh thiếu các ký tự tiếng Việt Â, Đ, Ê, Ô và các ký hiệu khoa học tự nhiên như sin, cos, tan), giá thành sản xuất giấy chuyên dụng rất đắt, khổ sách cồng kềnh (trung bình 1 trang chữ thường tương đương 4 - 5 trang Braille). Báo chữ nổi duy nhất là tờ "Đời mới" (ra đời năm 1978, xuất bản luân phiên tháng chẵn bản chữ nổi, tháng lẻ bản truyền thanh).
  • Giải pháp công nghệ và sách nói: Phân tích ứng dụng của trình duyệt web Sao Mai (dự án năm 2003 nhận tài trợ 14.000 USD), phần mềm Vì người mù Việt Nam (VMV) và định dạng DAISY. Sách nói được xác định là giải pháp tối ưu nhờ tính linh hoạt, tiết kiệm không gian kho tàng (1 đĩa CD 12 cm lưu được 80 phút âm thanh hoặc 700 MB dữ liệu số hóa), chi phí sản xuất thấp hơn sách nổi và người khiếm thị có thể vừa nghe vừa lao động sản xuất.

Chương 2: Thực trạng và công tác phát triển nguồn tin trong các thư viện Việt Nam qua khảo sát tại Thư viện Trường học Nguyễn Đình Chiểu (Hà Nội) và Phòng khiếm thị Thư viện Hà Nội

Chương 2 phản ánh chi tiết kết quả khảo sát thực tế tại hai đơn vị nghiên cứu điển hình:

1. Đánh giá tổng quan mạng lưới phục vụ cả nước: Báo cáo tổng kết 10 năm hợp tác với Quỹ FORCE (Hà Lan) giai đoạn 2000 - 2010 cho thấy sự chuyển biến từ việc chỉ có 2 thư viện phục vụ người khiếm thị trước năm 2000 (tại Hà Nội và TP.HCM) lên hơn 100 cơ quan, tổ chức trên toàn quốc triển khai dịch vụ thông tin với các tài liệu thay thế; 9 lớp tập huấn được tổ chức cho 153 cán bộ thuộc 77 cơ quan.

2. Thư viện Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu (Hà Nội):

  • Lịch sử và cơ sở vật chất: Thành lập năm 1982, từ năm 1988 chuyển về địa điểm 21 Lạc Trung (Hai Bà Trưng, Hà Nội) thực hiện mô hình giáo dục hòa nhập nội trú. Thư viện gồm 2 phòng: Kho sách chữ nổi ($30\text{ m}^2$) và Phòng đọc ($25\text{ m}^2$) trang bị 10 máy cassette, 5 bàn đọc.
  • Nhân lực và bạn đọc: Có 02 cán bộ kiêm nhiệm là giáo viên trực tiếp giảng dạy, không có chuyên môn ngành Thông tin - Thư viện, làm việc tự nguyện không phụ cấp. Phục vụ 120 học sinh khuyết tật (47% nhìn kém, 53% mù hoàn toàn).
  • Vốn tài liệu: 950 đĩa văn học thiếu nhi, 350 đĩa sách giáo khoa, 250 đĩa phổ biến kiến thức và 50 cuốn sách giáo khoa chữ nổi Braille (chỉ đủ các môn cơ bản cấp 1-2 như Toán, Văn, Tiếng Việt, Ngoại ngữ, Sử, Địa, Lý, Hóa; thiếu sách tham khảo và bậc học cao hơn).
  • Tình hình phục vụ: Phục vụ ngoài giờ lên lớp (chiều thứ Sáu và sáng Chủ nhật), tần suất bình quân 10 học sinh/ngày.

3. Phòng khiếm thị - Thư viện Hà Nội (47 Bà Triệu):

  • Cơ sở hạ tầng và vốn tài liệu: Tòa nhà 8 tầng nổi, 1 tầng hầm ($6.161\text{ m}^2$). Vốn tài liệu khiếm thị gồm 2.300 cuốn sách chữ nổi tiếng Việt (đặt Thành hội Người mù sản xuất với đơn giá 3.000 đồng/trang) và 50 cuốn sách Braille tiếng Anh do ADB tài trợ năm 2010 (chưa đưa vào sử dụng do bất đồng bộ ký hiệu). Vốn sách nói gồm 200 đĩa CD-ROM và 1.700 băng cassette tự sản xuất.
  • Phương thức phục vụ: Phục vụ tại chỗ qua kho đóng (đạt 200 thẻ mượn, khoảng 2.400 lượt bạn đọc/năm) và phục vụ lưu động luân chuyển sách định kỳ 1 quý/lần tới 15 cơ sở trực thuộc Thành hội Người mù Hà Nội thông qua danh mục gửi qua thư điện tử. Trang thiết bị gồm máy phóng đại nhược thị, máy cassette và 02 máy đọc Victor Reader.
Loại hình tài liệu Tỷ lệ bạn đọc khiếm thị sử dụng (%)
Sách chữ nổi (Braille) 85%
Sách nói (CD / Băng cassette) 68%
Sách chữ đại (chữ in khổ lớn) 0%
Thư mục tra cứu 0%

Bảng: Tỷ lệ bạn đọc khiếm thị sử dụng các loại hình tài liệu tại Thư viện Hà Nội năm 2011.

  • Quy trình sản xuất sách nói tại Studio Thư viện Hà Nội:
    1. Tình nguyện viên đọc văn bản qua microphone trong phòng cách âm.
    2. Nhân viên kỹ thuật tiếp nhận tín hiệu, điều chỉnh âm lượng qua bàn mixer 16 line và ghi âm vào máy tính.
    3. Xử lý hậu kỳ file âm thanh bằng phần mềm: cắt bỏ tạp âm, tiếng lặp, sửa lỗi đọc, bổ sung lời giới thiệu.
    4. Xuất bản phẩm lưu trữ: Thu trực tiếp sang băng cassette master hoặc chuyển đổi sang định dạng DAISY master và ghi sang đĩa CD-ROM.
    5. Xử lý nghiệp vụ vật lý: In nhãn đĩa/vỏ băng, dán nhãn thông tin, đăng ký cá biệt và xếp giá theo số thứ tự.

Chương 3: Kiến nghị về phương hướng phát triển nguồn tin ở các thư viện trong thời gian tới

Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Xây dựng mô hình mạng lưới thư viện chuyên biệt: Thiết lập hệ thống thư viện phục vụ người khiếm thị theo cấu trúc: một thư viện trung tâm giữ vai trò điều phối, lập kế hoạch, vận động tài trợ, sở hữu studio sản xuất sách nói kỹ thuật số quy chuẩn và phân phối tài liệu đến các thư viện thành viên, thư viện trường học tuyến cơ sở.
  • Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực thông tin:
    • Củng cố vốn tài liệu sách chữ nổi, đồng thời đẩy mạnh bổ sung và sản xuất sách nói có chọn lọc.
    • Thu thập, xử lý và chuẩn hóa các file âm thanh từ các nguồn trực tuyến hợp pháp.
    • Cân đối tỷ trọng tài liệu giữa khoa học xã hội và khoa học tự nhiên; nâng cao kỹ năng diễn giải từ hình ảnh trực quan sang ngôn ngữ âm thanh đối với sách giáo khoa tiểu học.
    • Khai thác nguồn tài liệu ngoại văn thông qua việc tổ chức đào tạo bổ trợ ngoại ngữ và ký hiệu quốc tế cho bạn đọc.
  • Phát triển sản phẩm và dịch vụ chuyên biệt: Xây dựng mục lục tra cứu truyền thống bằng chữ nổi, biên soạn thư mục tóm tắt; kết hợp sách nói với mô hình học cụ nổi, tactile graphics. Tổ chức dịch vụ phòng đọc nhóm, lập hồ sơ sở thích bạn đọc để tối ưu hóa việc sử dụng thiết bị nghe.
  • Tăng cường liên kết và xã hội hóa: Phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam trích lọc các chương trình thời sự, khoa học thành bản tin âm thanh định kỳ. Liên kết chia sẻ cơ sở dữ liệu sách nói giữa các thư viện trong nước để tránh sản xuất trùng lặp một đầu sách. Đề nghị Nhà nước ban hành cơ chế chính sách thống nhất trong xuất bản sách chuyên dụng và cấp kinh phí hỗ trợ trang thiết bị đọc.

Kết quả và đóng góp

Kết quả khảo sát thực tế

Khóa luận đã định lượng và so sánh được hiện trạng phục vụ tại hai mô hình thư viện đặc thù:

Tiêu chí so sánh Thư viện Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu Phòng khiếm thị - Thư viện Hà Nội
Loại hình tổ chức Thư viện trường học chuyên biệt (nội trú) Phòng phục vụ chuyên biệt thuộc Thư viện tỉnh/thành phố
Diện tích phục vụ $55\text{ m}^2$ (Kho $30\text{ m}^2$, phòng đọc $25\text{ m}^2$) Tòa nhà $6.161\text{ m}^2$ (phòng đọc chuyên biệt riêng)
Nhân sự phụ trách 02 giáo viên kiêm nhiệm (không chuyên môn TT-TV) Cán bộ thư viện chuyên trách + tình nguyện viên thu âm
Vốn sách chữ nổi 50 cuốn sách giáo khoa cơ bản 2.300 cuốn tiếng Việt + 50 cuốn tiếng Anh
Vốn sách nói 1.550 đĩa CD (950 văn học, 350 SGK, 250 phổ biến KT) 200 đĩa CD-ROM + 1.700 băng cassette
Cơ sở vật chất kỹ thuật 10 máy cassette, 5 bàn đọc 02 máy Victor Reader, máy nhược thị, studio thu âm
Phương thức phục vụ Đọc tại chỗ ngoài giờ học (chiều thứ 6, sáng CN) Kho đóng tại chỗ (200 thẻ) và luân chuyển 15 cơ sở Hội

Giải pháp và đóng góp của đề tài

  • Khảo sát dữ liệu thực nghiệm: Cung cấp bức tranh thực trạng về năng lực đáp ứng tài liệu cho người khiếm thị tại Hà Nội, chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về sách chữ nổi môn tự nhiên và thiết bị đọc chuyên dụng.
  • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật: Mô tả chi tiết quy trình 5 bước sản xuất sách nói bán chuyên nghiệp và kỹ thuật số DAISY tại studio thư viện, làm tài liệu tham khảo cho các thư viện vừa và nhỏ.
  • Đề xuất mô hình tổ chức: Đưa ra phương án xây dựng mạng lưới thư viện trung tâm - vệ tinh và các kiến nghị xã hội hóa nguồn lực, chia sẻ tài nguyên âm thanh nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt kinh phí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn thời gian làm khóa luận cử nhân và nguồn lực cá nhân, khảo sát thực nghiệm mới chỉ thực hiện tập trung tại 2 đơn vị trên địa bàn Hà Nội, chưa mở rộng điều tra định lượng tại hệ thống thư viện công cộng các tỉnh miền Trung, miền Nam hay vùng sâu, vùng xa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu ra mạng lưới thư viện toàn quốc; khảo sát chuyên sâu về chuyển đổi số, ứng dụng chuẩn DAISY trực tuyến và phân phối tài liệu nói qua Internet/di động khi hạ tầng công nghệ thông tin phát triển.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với các đối tượng:

  • Sinh viên và giảng viên ngành Thông tin - Thư viện, Công tác xã hội, Giáo dục đặc biệt: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về dịch vụ thông tin cho nhóm người yếu thế và đặc điểm tâm lý, nhu cầu tin của người khiếm thị.
  • Cán bộ quản lý thư viện công cộng và thư viện trường học: Tham khảo quy trình thiết lập phòng đọc, quy trình vận hành studio thu âm sách nói và phương thức luân chuyển tài liệu lưu động đến các hội người mù cơ sở.
  • Các tổ chức phi chính phủ, cơ quan văn hóa - giáo dục: Căn cứ dữ liệu để xây dựng các dự án tài trợ thiết bị đọc, chuyển đổi định dạng tài liệu số hóa cho người khuyết tật thị giác.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ học sinh khiếm thị được đi học và thực trạng trình độ học vấn của người tàn tật tại Việt Nam được ghi nhận như thế nào trong khóa luận? Theo số liệu từ dự án TamhonVietNam.net (2009), tỷ lệ học sinh khiếm thị được đi học trên toàn quốc chỉ đạt 7%. Báo cáo của TS. Ôn Tuấn Bảo cho biết 35,58% người tàn tật trên cả nước chưa biết chữ (khu vực nông thôn là 36,9%); chỉ 5,64% có trình độ trung học phổ thông và 97,64% không có trình độ chuyên môn kỹ thuật.

2. Chi phí và quy cách sản xuất sách chữ nổi Braille tại Thư viện Hà Nội thời điểm khảo sát ra sao? Thư viện Hà Nội ký hợp đồng đặt Thành hội Người mù sản xuất sách chữ nổi với giá thành 3.000 đồng/trang. Trung bình 1 trang sách in thông thường khi chuyển dạng tương đương khoảng 4 trang sách chữ nổi Braille.

3. Vì sao 50 cuốn sách chữ nổi tiếng Anh do Quỹ ADB tài trợ cho Thư viện Hà Nội năm 2010 chưa thể đưa vào phục vụ bạn đọc? Tài liệu chưa thể đưa ra phục vụ do hệ thống ký hiệu chữ nổi tiếng Anh có sự khác biệt so với bảng ký hiệu chữ Braille tiếng Việt, trong khi người dùng tin tại chỗ chưa được đào tạo kỹ năng đọc ký hiệu ngoại văn.

4. Hai hình thức phục vụ bạn đọc chính của Phòng khiếm thị Thư viện Hà Nội là gì? Thư viện áp dụng hình thức phục vụ tại chỗ thông qua kho đóng (quản lý 200 thẻ mượn, đón khoảng 2.400 lượt bạn đọc/năm) và hình thức phục vụ lưu động (luân chuyển sách định kỳ mỗi quý một lần tới 15 cơ sở thuộc Thành hội Người mù Hà Nội dựa trên danh mục gửi qua email).

5. Kết quả nổi bật nhất trong 10 năm hợp tác giữa Việt Nam và Quỹ FORCE (1998/2000 - 2010) là gì? Từ chỗ chỉ có 2 thư viện phục vụ người khiếm thị trước năm 2000, sau 10 năm đã mở rộng ra hơn 100 cơ quan, tổ chức triển khai dịch vụ thông tin; tổ chức 9 hội thảo tập huấn cho 153 cán bộ thuộc 77 cơ quan và thiết lập các tủ sách/thư viện mini tại các cơ sở nuôi dạy trẻ khiếm thị.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thảo Trinh đã phản ánh toàn diện thực trạng thiếu hụt nguồn tin chuyên biệt cho người khiếm thị tại Việt Nam giai đoạn trước năm 2012. Thông qua khảo sát thực tế tại Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu và Thư viện Hà Nội, công trình đã phân tích rõ các rào cản về cơ sở vật chất, nhân lực, kỹ thuật sản xuất sách Braille và sách nói. Các giải pháp được đề xuất—tập trung vào chuẩn hóa quy trình sản xuất sách nói, xây dựng mạng lưới thư viện trung tâm - vệ tinh và đẩy mạnh xã hội hóa—mang giá trị thực tiễn cao đối với ngành Thông tin - Thư viện và sự nghiệp giáo dục hòa nhập cộng đồng.