CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I. Lịch sử nghiên cứu về hoạt động tham van tâm lý 1. Sự ra đời của nghề tham vẫn tâm lý trên thế giới Ở các nước phát triển, ngành tham van là một ngành tương đổi trẻ. Trước năm 1900, tham vẫn chủ yếu la cho ý kiến, tập trung vảo việc cung cấp những phúc lợi nhân đạo căn bản cho những người kém may mắn trong thời ky cách mạng công nghiện.
Nhưng dé trở thành một lĩnh vực mang tiếng chuyên nghiệp được tiễn hành trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống và áp dụng rộng rãi trong xã hội thi đến thé kỷ XIX người tham van chính thức xuất hiện. Sự ra đời va phát triển của tham van chuyên nghiệp do sự tác động của nhiều yêu tô. - Phong trảo đổi mới trợ giúp xã hội vào những năm cuối thé ky XIX từ sự ứng dụng phổ biển phương pháp làm việc với cá nhắn (case work). Để việc giúp đỡ có hiệu quả, đáp ứng đúng nhu cầu của người cần trợ giúp, người ta chú trọng sử dụng trao đổi trực tiếp.
- Những can thiệp nhằm giúp đỡ người bị bệnh tâm than của những nha tâm than học va những cách tiếp cận nhắn đạo trong giáo dục. - Năm 1909, cuốn sách “chọn nghé” (Choosing a Vocation) của Frank Parsons được xuất ban và ngay lập tức nó được coi là sự công hiển lớn lao cho công tác hướng dẫn tư vẫn nghệ [8]. Boston - nơi ông lam việc - trở thành địa điểm tổ chức Hội nghị công tác hướng dẫn tư van nghề nghiệp đầu tiên. Kết quả của hội nghị này đánh dau sự ra đời của Hiệp hội tư van hướng nghiệp quốc gia Mỹ (NVGA) năm 1913, tổ chức tiên nhiệm của Hiệp hội tham van Mỹ sau nảy.
Như vậy, sự ra đời của tư vẫn hướng nghiệp của Frank Parsons cùng hoạt động của tư vẫn hướng nghiệp được nở rộ sau thời gian sau nay là một trong những yếu tố quan trọng thúc đây sự ra đời của tham van. các nghiên cứu vẻ trắc nghiệm tâm lý, lý thuyết tâm lý cũng đã góp phan thúc day sự hình thành va phát triển của tư van tâm lý. Các lý thuyết tâm lý học, đặt biệt là các lý thuyết trị liệu tâm lý đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định sự ra đời đồng thời là nẻn tảng lý luận cho việc thực hiện các kỹ năng, thao tác trên thực tế của các tư van tâm lý. Đó là các nghiên cứu lý thuyết tâm lý: + Tâm lý học đặc điểm nhân tố.
+ Tâm lý học phân tâm với trị liệu bằng phương pháp phân tâm do S.Freud sáng lập. + Tâm lý học nhân văn do Carl Roger va Maslow xây dựng. + Tir những năm 1950 các lý thuyết của tâm lý học phát triển rộng rãi và nghiên cứu ứng dụng vả tham van - trị liệu tâm lý như lý thuyết phát triển con người của Erikson (1950) va của J. Piaget (1954) đã cung cấp cho các nhà tham vấn những kiến thức hiểu biết về đặc điểm tâm lý của từng giai đoạn phát triển của con người làm nén tảng cho sự tương tác với đối tượng và môi trường; các nghiên cứu của Albert Ellis vẻ phép trị liệu hành vi cảm xúc (1957) nhằm giúp đối tượng xóa bỏ những niềm tin phi lý của minh từ đó xóa bỏ hành vi tiêu cực như là hậu quả của những niềm tin phi lý; virginia Axline với phép trị liệu bằng trò chơi trẻ em, Frederick Perls với phép trị liệu tâm lý học cau trúc tập trung vao kinh nghiệm hiện tại va việc nang cao tự nhận thức của đối tượng [ 9] Từ những lý thuyết tâm lý có tính chất tạo nén tảng về cơ sở lý luận và nhu cầu của xã hội về tham vấn đòi hỏi phải có những nhà tham vấn chuyên nghiệp đã dẫn đến việc các trường trung học, trung tâm đào tạo về tham van được thành lập.
Cho đến nay tham van đã sử dụng rộng rãi trong đời sống con người va xã hội loài người. Tham van chính thức trở thành một nghề chuyên môn có khoa học lý thuyết và thực nghiệm. Các nhân viên tham vấn qua đào tạo được xã hội thừa nhận và tác nghiệp với tư cách là chuyên gia tham vấn hay cán sự xã hội làm công tác xã hội trong các trường giáo dưỡng, các cơ sở, trung tâm xã hội cộng đồng, các trung tâm than vắn, trong trường học, bệnh viện, nhà tù. Người ta xem tham vấn như là một trong những dịch vụ xã hội có vai trỏ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống tỉnh than của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Tại một số nước trên thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Úc, Singapore, Philipine, nhân viên tham vấn được đào tạo chính qui trong các trường đại học (cần có bằng master) vả phải có cả bằng hành nghé tham van độc lập hoặc công tác xã hội do hội đồng giáo dục quốc gia hoặc hiệp hội công tác xã hội quốc gia hay hội đồng tham van quốc gia với những qui định chặt chẽ vẻ qui định đạo đức kiến thức, kỹ năng tham vấn đối với nhân viên tham van [9] Như vậy, lịch sử ra đời và phát triển của tham van là một quá trình lâu dài do sự qui định khách quan và đòi hỏi tất yếu từ nhu cầu xã hội. Cùng với sự vận động phát triển của xã hội loài người, tham vin vừa là một khoa học vừa là một nghẻ chuyên môn cẳn được tiếp tục bổ sung và không ngừng hoàn thiện để đáp ứng ngày cảng cao nhu cầu xã hội. Sự hình thành và phát triển tham vấn ở Việt Nam. Mam mống của ngành tham vấn ở Việt Nam đã có từ lâu đời.
Với truyền thống lịch sử văn hóa hàng ngàn năm tạo nên các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc như tinh thần đoàn kết, có kết cộng déng, lòng nhân ái vị tha. Vì vậy, trong cuộc sống cộng đồng luôn tén tại môi quan hệ gắn bó, tương thân, tương ái sin sảng giúp đờ lẫn nhau. Những người gặp khó khăn, bat hạnh, cảm thấy bi quan trước cuộc sống, thậm chí muốn tìm đến cái chết, sau khi có được những lời khuyên giải, động viên sẽ có thê vượt qua được những trở ngại đó. Những việc làm đây ý nghĩa đó thường được thực hiện được bởi những người có uy tín trong xã hội như những người cao niên trong bản, làng, thôn, xóm; những người đứng đầu dòng họ; những nhà sư; thay đẻ.
Trong đó nổi bậc nhất là vai trò của các nhà su, các nhà tu hành, với tư tưởng “xuất gia hành đạo, nhập thế cứu đời” đã giúp rất nhiều người bất hạnh vơi bớt nỗi khổ, tin tưởng và cuộc sống và từ bỏ những hảnh động tiêu cực. Tuy nhiên, tham van tâm lý — với ý nghĩa là một lĩnh vực hoạt động mang tính chất khoa học và chuyên nghiệp - chỉ mới phát triển trong những năm gan đây ở Việt Nam. Vì chưa có be day lịch sử về mặt hoạt động thực tiễn cũng như về mặt nghiên cứu khoa học nên hoạt động tham vấn ở Việt Nam chưa có một hệ thống lý luận cụ thể, vững chắc và thống nhất trong cả nước. Trước Cách Mạng Tháng Tám, hau như không có tài liệu nào ghi lại sự tồn tại và phát triển của tư vấn hay tham van ở Việt Nam.
Sau khi giành được độc lập, hoạt động tham vấn ngày càng phát triển nhưng mang tính rời rac, tự phát, chưa chuyên nghiệp về lý thuyết cũng như hoạt động thực tiễn. Về lý thuyết tham van, việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng một số vấn dé lý luận về tham van qua các bài viết trên báo, tạp chí, các tham luận tại các hội thảo và một số công trình nghiên cứu về nhu cầu và thực trạng tham van tâm lý. * Những nghiên cứu lý luận về phân biệt các thuật ngữ tư van, tham van, cổ vẫn nhằm đưa ra những dấu hiệu bản chat, phân tích các thuật ngữ trên theo quan điểm thông thường và quan điểm khoa học. Tuy nhiên vẫn -10- chưa có sự thông nhất trong cach dùng các thuật ngữ trén, nền cỏ tác giả vẫn dùng thuật ngữ “tư vẫn” theo nghĩa của thuật ngữ “tham vanTM [4], [10], [Ul].
[12] * Những nghiên cứu vẻ nhu cầu va thực trang của hoạt động tham vấn: các tác giả đã chỉ ra yếu tố lam nảy sinh nhu cầu tham van hiện nay trong xã hội, nghiên cứu những lĩnh vực mà thân chủ có nhu cầu tham vin, những nhu cầu về phẩm chat và năng lực của nhà tham vin, thực trạng của việc đáp ứng nhu cẩu tham van hiện nay vẻ mặt cơ sở vật chất, chất lượng và các hình thức tham van, tìm ra nguyên nhân và dé xuất một số giải pháp cho thực trạng đó. Chẳng han, dé tải báo cáo khoa học “nhu cầu tham van tâm lý của sinh viên trường đại học khoa học xã hội vả nhân văn đối với các dịch vụ tham van tâm lý" của Đỗ Minh Thúy Liên, “Tim hiểu thực trạng vẻ nhu cầu tham van tâm ly của sinh viên trường đại học khoa học xã hội va nhân văn” của Lê Thị Lan Phương. hay dé tai tốt nghiệp “nhu cầu tham vấn trực tuyển về sức khỏe, sinh sản và HIV/AIDS của thanh thiểu niên" của Lưu Thị Lich và dé tài “Nhu cầu tham van tâm lý của học sinh PTTH" Nguyễn Văn Thức, để tài “Nhu cầu tham vấn của học sinh phổ thông trung học thành phé Điện Biên" của Nguyễn Thị Thu Hoà. và một số dé tài liên quan đến lĩnh vực tham vấn học đường [13], [14], [15,29], (15.
Bên cạnh đó, lượng sách, báo, tạp chí, tài liệu dịch liên quan đến tham van tại Việt Nam ngày càng nhiều với các tác giả như TS Tô Thị Anh, TS. Tran Thị Minh Đức, Đỗ Ngọc Khanh, BS Nguyễn Khắc Viện, BS Đỗ Hồng Ngọc.Đây là những người hầu hết được đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu là các nước XHCN Đông Âu va Liên Xô vào những năm 1970, 1980 va Ja lực lượng chính tham gia vao hoạt động tham van ở Việt Nam [9]. Vẻ thực hành tham van, sự ra đời của các trung tâm, dich vụ hỗ trợ giúp tâm lý, xã hội tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phó Hỗ Chí Minh trong khoảng 10 năm lại đây đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển nghẻ tham van thực hành.