Chương 1: Cơ sở lý luận về xác định NCBD của công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Chương 2: Thực trạng công tác xác định NCBD đội ngũ công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. 6 Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác xác định nhu cầu bồi dưỡng công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. 7 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH NHU CẦU BỒI DƢỠNG CỦA CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.
Công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1. Khái niệm công chức trong cơ quan chuyên môn cấp huyện 1. Công chức Nhà nước là một tổ chức được hình thành để thực hiện chức năng duy trì sự ổn định của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển và giải quyết các vấn đề chung của xã hội. Trong suốt chiều dài lịch sử, để tồn tại và phát triển, Nhà nước phải xây dựng cho mình một đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, trình độ đáp ứng đầy đủ nhu cầu, nguyện vọng của người dân cũng như yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội.
Vì vậy, khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời của Nhà nước. Tuy nhiên, quan điểm về công chức ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia là khác. Ở Anh, “Công chức là các nô bộc của nhà Vua, không phải là những người giữ các chức vụ chính trị hoặc tư pháp, những viên chức dân sự hưởng lương trực tiếp và hoàn toàn từ ngân sách được Nghị viện thông qua”[26 ;317]. Như vậy, những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, do trung ương quản lý được gọi là công chức.
Ở Pháp, “Công chức là những người làm việc công vụ được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở hay một công sở tự quản” [26;241]. Theo quan niệm trên thì công chức ở Pháp có 3 loại công chức trong các ngạch hành chính nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ và công chức trực thuộc các công sở tự quản. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, “Công chức là những nhân viên làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do nhà nước quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan Chính phủ, các giáo sư đại học, giáo viên 8 trung học, tiểu học, bác sĩ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa. Như vậy, những người làm việc trong các cơ quan tổ chức, đơn vị nhà nước đều là công chức.
Vì thế phạm vi đối tượng là công chức ở Đức rất rộng. Ở Nhật Bản, “Công chức là người làm việc nhà nước, chịu trách nhiệm về những việc chung của nhà nước, do nhà nước lựa chọn và bổ nhiệm; được trả lương từ ngân sách của nhà nước” [26;137]. Qua tìm hiểu nền hành chính của các nước nêu trên, có thể thấy không có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Tùy theo cách thức quan niệm về công chức của các nước mà phạm vi công chức có mức độ rộng hẹp khác nhau.
Sự khác nhau này xuất phát từ những khác biệt trong thể chế, kinh tế-xã hội, văn hóa truyền thống, lịch sự của mỗi quốc gia. Tuy có sự khác nhau nhưng các nước đều có điểm chung thống nhất trong quan điểm về công chức đó là xác định công chức có trong bộ máy nhà nước. Ở Việt Nam, khái niệm về công chức lần đầu tiên được quy định trong sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo đó, tại Điều 1 của Sắc lệnh quy định “ Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công dân theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định” [2].
Cho đến khi Nghị định số 169/HĐBT về công chức được ban hành ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng thì khái niệm công chức mới được đề cập lại và phạm vi rộng hơn. Tại Điều 1 Nghị định này quy định: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước” [5]. Pháp lệnh CBCC năm 1998, tại Điều 1, khái niệm về CBCC được quy định như sau: “Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [8]. 9 Tại kì họp thứ 4 ngày 13/11/2008, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, Luật CBCC số 22/2008/QH12 năm 2008 được thông qua.
Tại Luật này có sự phân biệt và quy định cụ thể thế nào là khái niệm “cán bộ” và khái niệm “công chức”. Theo Khoản 2 Điều 4 của Luật cán bộ, công chức của Quốc hội thì “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [13]. Từ quan điểm nêu trên, có thể thấy Luật Cán bộ công chức năm 2008 là sự điều chỉnh chung cho tất cả công chức làm việc trong các cơ quan hành chính của nhà nước. Ở địa phương, để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, UBND cấp huyện sẽ thành lập các cơ quan chuyên môn để tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên.
Do đó, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là các đơn vị thuộc cơ quan hành chính nhà nước. Từ đó, có thể xác định đội ngũ công chức làm việc trong các cơ quan chuyên môn này cũng được gọi là công chức hành chính nhà nước. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý 10 nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở [4]. Trong Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã quy định rất rõ về vị trí, chức năng của các cơ quan chuyên môn.
Cụ thể là trong Điều 3 đã quy định : (i) Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. (ii) Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện Từ các phân tích trong các mục trên, có thể khái quát “Công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện” được hiểu là công chức hành chính nhà nước được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được giao trên địa bàn huyện”. Đây là những công chức làm việc trong các phòng: Phòng Nội vụ; Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính- Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Lao động- Thương binh và xã hội; Phòng Văn hóa và Thông tin; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế; Thanh tra huyện; Văn phòng Hội đồng nhân dân UBND hoặc Văn phòng UBND nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân.
11 Ngoài ra ở quận có thêm các cơ quan chuyên môn: Phòng Kinh tế; Phòng Quản lý đô thị. Ở các thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Phòng Kinh tế; Phòng Quản lý đô thị. Ở các huyện có Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Phòng Kinh tế và hạ tầng; Phòng Dân tộc. Đặc điểm của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là một bộ phận của công chức hành chính nhà nước, nên họ có những đặc điểm sau: (i) Tính nghề nghiệp: Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chỉ thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về lĩnh vực mà công chức đó được giao đảm nhận như văn thư, kế toán, tôn giáo, thi đua khen thưởng, đất đai, môi trường… Tính nghề nghiệp đòi hỏi công chức các cơ quan chuyên môn phải có kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ phù hợp với lĩnh vực công việc đảm nhiệm.