Nhận Xét Tình Hình Đẻ Non Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội Từ Tháng 10/2018 Đến Tháng 4/2019

Luận văn thạc sĩ y tế nghiên cứu nhận xét tình hình đẻ non tại bệnh viện phụ sản hà nội từ tháng 10 2018 đến tháng 4 2019, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2019

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đại cương về đẻ non

1.2. Định nghĩa đẻ non

1.3. Tỷ lệ đẻ non

1.4. Cơ chế bệnh sinh của chuyển dạ đẻ non

1.5. Ảnh hưởng của đẻ non đối với sơ sinh

1.6. Các dấu hiệu dự báo nguy cơ đẻ non

1.7. Chẩn đoán dọa đẻ non

1.8. Chẩn đoán chuyển dạ đẻ non

1.9. Chẩn đoán tuổi thai

1.10. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đẻ non

1.10.1. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ về phía mẹ

1.10.2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ về phía thai

1.10.3. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ do phần phụ của thai

1.10.4. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ do thầy thuốc

1.10.5. Không rõ nguyên nhân

1.11. Một số nghiên cứu trong nước và trên thế giới

1.11.1. Một số nghiên cứu trong nước

1.11.2. Một số nghiên cứu trên thế giới

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Nhóm thai phụ sau đẻ non

2.3. Nhóm thai phụ sau đẻ đủ tháng

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Thiết kế nghiên cứu

2.6.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.6.3. Các biến số nghiên cứu

2.6.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.6.5. Tham khảo hồ sơ bệnh án

2.6.6. Sai số và cách khống chế sai số

2.6.6.1. Khống chế sai số chọn
2.6.6.2. Khống chế sai số phỏng vấn

2.6.7. Phương pháp xử lý số liệu

2.6.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm về tiền sử sản khoa

3.1.2. Đặc điểm của sản phụ đẻ non khi vào viện

3.1.3. Nơi đầu tiên đến khám khi có các dấu hiệu cơ năng

3.1.4. Triệu chứng cơ năng khi vào viện

3.1.5. Triệu chứng thực thể khi vào viện

3.1.6. Đặc điểm nhiễm khuẩn sinh dục và tiết niệu

3.2. Một số yếu tố liên quan của đẻ non tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội

3.2.1. Liên quan giữa đặc điểm chung của sản phụ với đẻ non

3.2.2. Liên quan giữa tiền sử của sản phụ với đẻ non

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tình Hình Đẻ Non Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội

Tình hình đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong giai đoạn 2018-2019 đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Đẻ non, được định nghĩa là việc sinh con trước tuần thứ 37 của thai kỳ, đang trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ đẻ non ở Việt Nam dao động từ 6,5% đến 16%. Tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, tỷ lệ này cũng không nằm ngoài xu hướng chung. Việc nhận diện và phân tích các yếu tố liên quan đến đẻ non là rất cần thiết để cải thiện tình hình sức khỏe cho mẹ và bé.

1.1. Định Nghĩa Và Tỷ Lệ Đẻ Non Tại Việt Nam

Đẻ non được định nghĩa là việc sinh con trước tuần thứ 37 của thai kỳ. Tỷ lệ đẻ non tại Việt Nam hiện nay vào khoảng 6,5-16%. Các yếu tố như tuổi mẹ, tiền sử sản khoa và điều kiện chăm sóc sức khỏe có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ này.

1.2. Ảnh Hưởng Của Đẻ Non Đến Sức Khỏe Sơ Sinh

Đẻ non có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh, bao gồm bệnh màng trong, xuất huyết và nhiễm khuẩn. Nguy cơ tử vong của trẻ sơ sinh non tháng rất cao, chiếm tới 75,3-87,5% tử vong sơ sinh.

II. Nguyên Nhân Và Các Yếu Tố Nguy Cơ Đẻ Non Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội

Nghiên cứu cho thấy có nhiều nguyên nhân và yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng đẻ non. Các yếu tố này có thể được chia thành nhóm nguyên nhân từ mẹ, thai và các yếu tố do thầy thuốc. Việc hiểu rõ các nguyên nhân này sẽ giúp trong việc phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.1. Nguyên Nhân Từ Phía Mẹ

Các yếu tố như tuổi mẹ quá trẻ hoặc quá lớn, tiền sử đẻ non, và các bệnh lý kèm theo như tiểu đường, huyết áp cao có thể làm tăng nguy cơ đẻ non.

2.2. Nguyên Nhân Từ Phía Thai

Các yếu tố như đa thai, thai nhi phát triển không bình thường cũng có thể dẫn đến tình trạng đẻ non. Việc theo dõi sự phát triển của thai nhi là rất quan trọng.

2.3. Yếu Tố Do Thầy Thuốc

Sự thiếu sót trong việc chăm sóc và theo dõi thai kỳ từ phía thầy thuốc cũng có thể góp phần vào tình trạng đẻ non. Việc nâng cao nhận thức và kỹ năng của đội ngũ y tế là cần thiết.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tình Hình Đẻ Non Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội

Để nghiên cứu tình hình đẻ non, một phương pháp nghiên cứu định lượng đã được áp dụng. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án của các sản phụ đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 4/2019.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, phân tích các hồ sơ bệnh án để thu thập thông tin về tình trạng sức khỏe của sản phụ và trẻ sơ sinh.

3.2. Cỡ Mẫu Nghiên Cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định dựa trên số lượng sản phụ đẻ non trong thời gian nghiên cứu. Số liệu được thu thập từ các hồ sơ bệnh án để đảm bảo tính chính xác.

3.3. Phương Pháp Phân Tích Dữ Liệu

Dữ liệu thu thập được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và tình trạng đẻ non.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tình Hình Đẻ Non Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội

Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố liên quan đến tình trạng đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Các yếu tố này bao gồm đặc điểm của sản phụ, tiền sử sản khoa và các triệu chứng khi vào viện.

4.1. Đặc Điểm Chung Của Sản Phụ Đẻ Non

Nghiên cứu chỉ ra rằng đa số sản phụ đẻ non có độ tuổi từ 20 đến 35, với tỷ lệ cao ở những người có tiền sử đẻ non trước đó.

4.2. Triệu Chứng Khi Vào Viện

Các triệu chứng thường gặp khi sản phụ vào viện bao gồm cơn co tử cung, đau bụng và ra máu. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng.

4.3. Liên Quan Giữa Các Yếu Tố Với Tình Trạng Đẻ Non

Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa các yếu tố như tuổi mẹ, tiền sử sản khoa và tình trạng đẻ non.

V. Giải Pháp Và Phương Pháp Chăm Sóc Trẻ Đẻ Non Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội

Để cải thiện tình hình đẻ non, cần có các giải pháp chăm sóc và điều trị hiệu quả cho trẻ sơ sinh non tháng. Việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa và chăm sóc đặc biệt là rất cần thiết.

5.1. Biện Pháp Phòng Ngừa Đẻ Non

Các biện pháp phòng ngừa bao gồm việc theo dõi sức khỏe thai kỳ, giáo dục sức khỏe cho sản phụ và can thiệp kịp thời khi có dấu hiệu dọa đẻ non.

5.2. Chăm Sóc Trẻ Đẻ Non Tại Bệnh Viện

Chăm sóc trẻ đẻ non cần được thực hiện trong môi trường chuyên biệt với sự hỗ trợ của các thiết bị y tế hiện đại và đội ngũ y bác sĩ có kinh nghiệm.

5.3. Theo Dõi Và Đánh Giá Kết Quả Chăm Sóc

Việc theo dõi và đánh giá kết quả chăm sóc trẻ đẻ non là rất quan trọng để cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và giảm thiểu tỷ lệ tử vong.

VI. Kết Luận Về Tình Hình Đẻ Non Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội

Tình hình đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cần được quan tâm và cải thiện. Các nghiên cứu và giải pháp chăm sóc cần được triển khai để giảm thiểu tỷ lệ đẻ non và nâng cao sức khỏe cho mẹ và bé.

6.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Đẻ Non

Nghiên cứu về đẻ non cần tiếp tục được thực hiện để tìm ra các yếu tố mới và cải thiện các biện pháp chăm sóc sức khỏe cho sản phụ và trẻ sơ sinh.

6.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Cải Thiện

Cần có các chính sách và chương trình hỗ trợ cho sản phụ, đặc biệt là những người có nguy cơ cao để giảm thiểu tình trạng đẻ non.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ nhận xét tình hình đẻ non tại bệnh viện phụ sản hà nội từ tháng 10 2018 đến tháng 4 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương về đẻ non 1. Định nghĩa đẻ non Định nghĩa ĐN không thống nhất trên thế giới, có nhiều tác giả định nghĩa khác nhau về ĐN. Hầu hết các tác giả định nghĩa ĐN bằng cách đánh giá tuổi thai dựa vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng, trọng lượng sơ sinh và/hoặc dựa vào đặc điểm của sơ sinh sau khi đẻ.

- Theo Nguyễn Việt Hùng: ĐN là hiện tượng gián đoạn thai nghén khi tuổi thai có thể sống được [23]. - Theo TCYTTG: + Năm 1948: trẻ ĐN là những trẻ có trọng lượng khi đẻ ra dưới 2500 gram. Nhưng có thể gặp những sơ sinh có cân nặng dưới 2500 gram, nhưng là trẻ suy dinh dưỡng và đủ tháng [9]. + Năm 1961: trẻ ĐN là những trẻ đẻ ra có trọng lượng dưới 2500 gram và tuổi thai dưới 37 tuần [9].

- Sau đó người ta coi trẻ đẻ trước 37 tuần chậm kinh là trẻ ĐN [9].K: trẻ ĐN là trẻ khi sinh có tuổi thai từ 20 đến dưới 37 tuần chậm kinh [44]. - Sau đó có nhiều tác giả đưa ra tuổi thai từ 20-36 tuần, nhưng đa số các tác giả trên thế giới hiện nay đều quan niệm ĐN là cuộc đẻ diễn ra từ 20 đến 37 tuần [4, 30, 42]. - Ở Việt Nam, hầu hết các tác giả đều đưa ra định nghĩa ĐN là cuộc đẻ diễn ra từ 28 tuần đến 37 tuần. Hiện nay, do điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ non tháng đã được cải thiện, nhiều trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần sống được nên khái niệm về ĐN cũng thay đổi [4, 41, 42].

2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế (2016): ĐN là khi trẻ sơ sinh được sinh ra còn sống từ khi đủ 22 tuần đến trước khi đủ 37 tuần thai kỳ [8]. - Tuy vậy, ở Việt Nam chỉ có ít các cơ sở có thể chăm sóc sơ sinh quá non, nên hầu như các tác giả vẫn coi trẻ đẻ ra ở khoảng từ 28 đến 37 tuần chậm kinh là trẻ ĐN (dưới 259 ngày) [4, 41, 42]. Tỷ lệ đẻ non Tỷ lệ ĐN không giống nhau ở nhiều nơi trên thế giới, phụ thuộc vào các yếu tố như dân trí, phát hiện các yếu tố nguy cơ, khả năng điều trị của cơ sở y tế, điều kiện kinh tế - xã hội của người bệnh. Tỷ lệ đẻ non theo một số tác giả Tác giả/ nơi nghiên cứu Tuổi thai khi đẻ Tỷ lệ (%) Trần Quang Hiệp (1998 - 2000) 28 tuần đến hết 37 tuần 10,3 Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh [21] Nguyễn Văn Phong (2000 - 2002) 22 tuần đến hết 36 tuần 6,8 Bệnh viện Phụ sản Trung ương [42] Mai Trọng Dũng (2003 - 2004) 22 tuần đến hết 37 tuần 8,6 Bệnh viện Phụ sản Trung ương [15] Đỗ Thị Hồng Hạnh (2014) 22 đến 37 tuần tuổi 3,3 Bệnh viện Bạch Mai [20] Creasy và cộng sự (1993) [44] 20 tuần đến hết 36 tuần 9,6 Carey (2005) [29] 23 tuần đến hết 36 tuần 11,0 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Cơ chế bệnh sinh của chuyển dạ đẻ non Cơ chế bệnh sinh của chuyển dạ ĐN rất phức tạp, cho tới nay chưa có một cơ chế nào giải thích một cách đầy đủ. Có nhiều giả thuyết được đưa ra trong đó một số giả thuyết được thừa nhận rộng rãi. Thuyết cơ học Người ta cho rằng chuyển dạ ĐN xảy ra là do sự căng quá mức của tử cung. Các trường hợp như đa ối, song thai, tử cung nhi tính dễ phát sinh chuyển dạ ĐN.

Trong thực tế, người ta cũng có thể gây chuyển dạ bằng cách gây tăng áp lực buồng tử cung như phương pháp Kovac's cải tiến trong phá thai to [6]. Thuyết estrogen và progesteron Estrogen là một hormon có tác dụng làm phát triển cơ tử cung, đồng thời nó cũng có tác dụng làm tăng đáp ứng của cơ tử cung với oxytocin. Progesteron có tác dụng làm giảm đáp ứng của oxytocin trên cơ tử cung. Trong quá trình thai nghén, estrogen và progesteron tăng dần theo tuổi thai với một tỷ lệ nhất định.

Progesteron giảm đột ngột trước khi chuyển dạ vài ngày làm thay đổi tỷ lệ giữa estrogen và progesteron và điều này được coi như là nguyên nhân làm cho thúc tính của tử cung tăng lên, cơ tử cung dễ đáp ứng với các kích thích gây co và phát sinh chuyển dạ [24]. Thuyết prostaglandin Prostaglandin được tổng hợp ngay tại màng tế bào, đó là những acid béo không bão hòa và là dẫn xuất của acid prostanoic. Cho đến nay, người ta đã biết hơn 20 loại PG trong đó PGE2 và PGF2α được nghiên cứu nhiều [10, 41]. Prostaglandin có hai tác động lên tử cung.

Thứ nhất, các PG có tác dụng tăng cường mối liên kết giữa các sợi cơ ở các vị trí nối. Thứ hai, PGF2α kích thích dòng calci đi vào trong tế bào và kích thích giải phóng calci từ các lưới cơ tương. Sự tăng cao nồng độ calci trong tế bào hoạt hóa các chuỗi myosin và làm xuất hiện cơn co tử cung [10, 28, 41]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi có thai, nồng độ PGE2 và PGF2α tăng dần, khi đạt tới một ngưỡng nào đó sẽ phát sinh chuyển dạ.

ĐN xuất hiện khi nồng độ PG tăng cao. Có nhiều nguyên nhân làm cho PG tăng cao như hậu quả của các phản ứng viêm, do dùng thuốc. Người ta có thể gây sẩy thai hay gây chuyển dạ ở bất cứ tuổi thai nào bằng cách sử dụng các PG. Mặt khác, người ta cũng ức chế chuyển dạ bằng cách ức chế tổng hợp các PG [10, 28, 41].

Thuyết thần kinh Tử cung là một cơ quan chịu sự chi phối của hệ thần kinh thực vật. Người ta cũng cho rằng tử cung còn có một hệ thần kinh tự động, cơ tử cung giống cơ tim và nó có thể tự hoạt động để điều khiển cơn co của nó. Chuyển dạ ĐN có thể phát sinh từ các phản xạ thần kinh sau những kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp, đặc biệt là các stress về tâm lý [21, 42]. Thuyết nhiễm khuẩn Nhiễm khuẩn sinh ra phospholipase A2 catalase, chất này giải phóng acid arachidonic (trong lysosom, màng tế bào).

Arachidonic acid được sử dụng trong tổng hợp PG gây chuyển dạ. Phospholipase tìm thấy trong các vi khuẩn, các phospholipase A2 của các vi sinh vật này cao hơn nhiều so với trong màng ối và rau thai. Chính chất này được đưa đến trong quá trình viêm ống CTC và buồng tử cung. Các phản ứng viêm tại chỗ sẽ sinh ra các enzyme như protease, mucinase, collagenase.

Các enzym này tác động lên các mô liên kết làm suy yếu chúng, từ đó gây rỉ ối, vỡ ối, xóa mở CTC và gây chuyển dạ [37, 41, 42]. Vai trò của oxytocin Oxytocin là một hormon của vùng dưới đồi, được các sợi thần kinh dẫn xuống tích lũy ở thùy sau tuyến yên và có tác dụng co cơ tử cung. Người ta đã xác định được sự tăng tiết oxytocin ở thùy sau tuyến yên của người mẹ trong chuyển dạ đẻ, các đỉnh liên tiếp nhau của oxytocin có tần số tăng lên trong quá trình chuyển dạ và đạt mức tối đa khi rặn đẻ [46]. Oxytocin có cấu trúc phân tử nhỏ, đi qua được hàng rào rau thai.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét nghiệm cho thấy nồng độ oxytocin trong máu tĩnh mạch rốn cao hơn trong máu động mạch rốn và máu mẹ. Điều này gợi ý nguồn oxytocin gây chuyển dạ xuất phát từ phía thai [42]. Receptor của oxytocin ở màng tế bào cơ tử cung tăng dần theo tuổi thai làm cho cơ tử cung càng về cuối thai kỳ càng nhạy cảm với oxytocin. Ảnh hưởng của đẻ non đối với sơ sinh 1.

Một số bệnh lý thường gặp của sơ sinh non tháng * Bệnh lý hô hấp: là những bệnh lý hay gặp đối với sơ sinh non tháng, gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Các bệnh lý hay gặp gồm có [2, 46]: - Bệnh màng trong: nguyên nhân do thiếu hụt surfactan nên nhu mô phổi không giãn nở được, các phế nang tăng tính thấm, tổ chức kẽ dễ phù, các fibrin huyết tương dễ thoát mạch tràn vào trong lòng phế nang. Sau khi huyết tương rút, hồng cầu và fibrin đọng lại trong lòng phế nang tạo ra màng trong. + Ở tuổi thai càng nhỏ, trọng lượng thai càng thấp tỷ lệ mắc bệnh càng cao.

Bệnh thường xuất hiện vài giờ đến vài ngày sau đẻ. Trước đây bệnh gây tử vong 100%. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học như surfactan nhân tạo, máy thở nên có thể cứu sống được 70-80% trẻ bị bệnh. Để phòng bệnh màng trong, người ta khuyến cáo dùng corticoide trước sinh nhằm tăng khả năng tổng hợp surfactan.

- Tổ chức phổi quá non với đặc điểm là thành phế nang hẹp, mao mạch ít, tổ chức liên kết nhiều cũng là một nguyên nhân chính gây suy hô hấp sơ sinh. Đặc điểm của cơ quan hô hấp chưa trưởng thành làm cho phổi khó giãn nở, sự trao đổi khí bị hạn chế. * Xuất huyết: sự thiếu hụt của các yếu tố đông máu như yếu tố V, VII, prothrombin làm cho sơ sinh non tháng dễ bị xuất huyết đặc biệt là xuất huyết não và phổi. Nguy cơ xuất huyết càng cao đối với những trẻ bị sang chấn khi sinh.

* Nhiễm khuẩn: hệ thống miễn dịch của sơ sinh non tháng kém nên sơ sinh rất dễ bị nhiễm khuẩn (IgA của mẹ qua rau thai không đủ, IgM không qua được hàng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rào rau thai, hệ thống bổ thể có hàm lượng thấp). Nguy cơ nhiễm khuẩn càng cao đối với những trẻ non mà trong quá trình chuyển dạ có vỡ ối non, vỡ ối sớm. * Vàng da: là bệnh lý hay gặp với sơ sinh non tháng thiếu hoặc rối loạn các enzyme kết hợp. Thường là vàng da do tăng bilirubin gián tiếp.

* Rối loạn chuyển hoá: hay gặp là hạ calci huyết, hạ đường huyết. Nguyên nhân do sơ sinh non tháng ít dự trữ glycogen ở gan, hệ thống enzyme chuyển hoá chưa hoàn chỉnh làm trẻ khó thích nghi với đời sống độc lập. Nguy cơ tử vong của trẻ sơ sinh non tháng Với đặc điểm chưa có sự trưởng thành một cách hoàn chỉnh của các cơ quan, tổ chức trong cơ thể, tử vong của sơ sinh non tháng chiếm tỷ lệ lớn của tử vong sơ sinh chung. Trẻ tuổi thai càng nhỏ, trọng lượng càng thấp thì tỷ lệ tử vong càng cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ