Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nguyễn Huy Thiệp được giới nghiên cứu và phê bình nhận định là một hiện tượng tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại từ thời kỳ Đổi mới (cuối thế kỷ XX). Dù sáng tác trên nhiều thể loại như kịch, tiểu thuyết, thơ và tiểu luận phê bình, sở trường nổi bật của ông thể hiện ở thể loại truyện ngắn. Các tác phẩm của ông đã tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trong nước và quốc tế, mang lại cho tác giả nhiều giải thưởng quan trọng như Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp (2007) và giải thưởng Premio Nonino của Ý (2008), đồng thời được dịch sang nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, Ý, Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản. Trong hệ thống sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, mảng truyện ngắn đề tài lịch sử và dã sử tạo ra sự chú ý đặc biệt bởi lối viết giải thiêng, tái nhận thức và đặt lại vấn đề từ các sự kiện, nhân vật quá khứ.

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Ngữ văn của tác giả Lê Thị Thu Hằng (Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2015) với đề tài “Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (GVHD: TS. Hà Thanh Vân) được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu học thuật cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát và phân tích một cách hệ thống, toàn diện các tuyến nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; qua đó làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật đa chiều, mới mẻ về con người và khẳng định đóng góp của tác giả đối với văn học Việt Nam hiện đại.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khái quát về cuộc đời, quá trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và xây dựng hệ thống khái niệm công cụ phục vụ đề tài.
    2. Phân loại, phân tích các kiểu nhân vật lịch sử và dã sử theo hai trục bối cảnh: bối cảnh thời đại và bối cảnh văn học.
    3. Khảo sát các phương diện thi pháp đặc trưng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật (ngoại hình, hành động, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm).
    4. Đánh giá, tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của mảng truyện ngắn lịch sử - dã sử của Nguyễn Huy Thiệp.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng: Thế giới nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
    • Phạm vi: Khảo sát ngữ liệu văn bản tập trung trong cuốn “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (Đỗ Thủy Tiên hiệu đính, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2007), trọng tâm là các tác phẩm tiêu biểu như chùm truyện Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, truyện Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ, Chút thoáng Xuân Hương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các tài liệu lý luận văn học và từ điển chuyên ngành chuẩn mực:

  • Khái niệm "truyện ngắn": Dựa trên định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) và 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân chủ biên), xác định truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ bằng văn xuôi, tập trung khắc họa một hiện tượng, một trạng thái quan hệ xã hội hoặc tồn tại của con người với dung lượng cô đọng.
  • Khái niệm "nhân vật" và "nhân vật văn học": Dẫn xuất từ thuật ngữ gốc Latinh (persona), kết hợp quan điểm của Trần Đình Sử, Lê Tiến Dũng, Lại Nguyên Ân để khẳng định nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, không đồng nhất tuyệt đối với nguyên mẫu thực tế.
  • Khái niệm "nhân vật lịch sử" và "nhân vật dã sử":
    • Nhân vật lịch sử: Nhân vật có thật, giữ vai trò hoặc vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử đã được chính sử ghi nhận.
    • Nhân vật dã sử: Nhân vật trong các ghi chép lưu truyền dân gian mang yếu tố hư cấu; trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đây là các nhân vật được tác giả sáng tạo hoàn toàn nhưng phủ lớp màu sắc dã sử (như Phăng, Đặng Phú Lân, Ngô Thị Vinh Hoa, Quách Ngọc Minh) để đóng vai trò người dẫn dắt, chứng nhân, tạo tính khách quan nghệ thuật.

Khóa luận triển khai kết hợp 4 phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp thống kê, hệ thống: Tập hợp ngữ liệu các truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp, thống kê nhân vật và phân loại thành các nhóm chức phận xã hội và bối cảnh cụ thể.
  2. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đi sâu vào từng văn bản truyện ngắn, phân tích chi tiết cốt truyện, lời thoại, hành động của nhân vật, sau đó tổng hợp thành các đặc trưng thi pháp chung.
  3. Phương pháp văn hóa - lịch sử: Đặt tác phẩm và nhân vật vào bối cảnh thời đại lịch sử được miêu tả gắn liền với bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ Đổi mới để làm rõ tư duy nghệ thuật của tác giả.
  4. Phương pháp so sánh: Đối chiếu cách khắc họa nhân vật giữa văn bản của Nguyễn Huy Thiệp với chính sử, đối chiếu giữa các nhân vật trong cùng tác phẩm (Gia Long - Quang Trung, Gia Long - Nguyễn Du), và so sánh liên văn bản với các sáng tác cùng đề tài của tác giả khác (như so sánh nhân vật Nguyễn Ánh trong Kiếm sắc với truyện ngắn Dị hương của Sương Nguyệt Minh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về tác giả, quá trình sáng tác và nền tảng thuật ngữ lý luận của đề tài:

  • Tác giả và quá trình sáng tác: Trình bày tiểu sử Nguyễn Huy Thiệp (sinh năm 1950 tại Hà Nội, tuổi thơ gắn với nông thôn Bắc Bộ, 10 năm dạy học tại vùng cao Tây Bắc - Sơn La, chuyển sang nhiều nghề trước khi chính thức dừng bút cuối năm 2014). Tác giả bắt đầu in truyện từ năm 1986, tạo tiếng vang lớn từ năm 1987 với Tướng về hưu và năm 1988 với bộ ba Kiếm sắc - Vàng lửa - Phẩm tiết. Thống kê hơn 40 truyện ngắn in trong nhiều tuyển tập, cùng các tiểu thuyết (Tiểu Long Nữ, Tuổi hai mươi yêu dấu, Gạ tình lấy điểm), kịch (Vong Bướm, Truyền thuyết tìm vua, Suối nhỏ êm dịu), và tập tiểu luận phê bình Giăng lưới bắt chim.
  • Xác lập hệ thống khái niệm: Định nghĩa và phân biệt rõ ràng 4 khái niệm nền tảng: truyện ngắn, nhân vật văn học, nhân vật lịch sử, nhân vật dã sử.
Khái niệm Định nghĩa / Bản chất theo luận văn Vai trò trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Truyện ngắn Thể loại tự sự cỡ nhỏ bằng văn xuôi, dung lượng giới hạn, tập trung phát hiện bản chất nhân sinh. Phương tiện chuyển tải các chiêm nghiệm lịch sử và triết luận nhân sinh sắc bén.
Nhân vật văn học Hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, thể hiện quan niệm của nhà văn về con người. Chủ thể tiếp nhận sự "giải thiêng", tái hiện với đầy đủ tâm lý đời thường.
Nhân vật lịch sử Nhân vật có thật trong chính sử, có ảnh hưởng quan trọng đến lịch sử dân tộc. Bị tước bỏ hào quang huyền thoại để phơi bày tính người, bi kịch và giới hạn cá nhân.
Nhân vật dã sử Nhân vật hư cấu mang màu sắc ghi chép dân gian, đóng vai trò nhân chứng, người kể chuyện. Tạo cấu trúc đa thanh, tăng độ khách quan nghệ thuật và dẫn dắt người đọc tiếp cận lịch sử.

Chương 2: Các kiểu nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Chương này đi sâu khảo sát các hệ thống nhân vật theo hai trục không gian bối cảnh:

1. Nhân vật lịch sử và dã sử trong bối cảnh thời đại

  • Nhân vật lịch sử:
    • Nhân vật là vua: Vua Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh) trong Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết được khắc họa đa diện: vừa đa mưu, kiên trì, sắc sảo về chính trị, vừa tàn bạo, cô đơn trên đỉnh cao quyền lực, dùng ngôn ngữ dân dã, thô mộc, có những đam mê và yếu đuối trần tục trước cái đẹp. Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) trong Phẩm tiết hiện lên là vị anh hùng áo vải gần gũi, biết hối hận sâu sắc khi xử oan bề tôi (Ngô Khải), biết trân trọng và tôn sùng cái đẹp thuần khiết của Ngô Thị Vinh Hoa như báu vật.
    • Nhân vật là tướng: Hoàng Hoa Thám trong Mưa Nhã Nam được soi chiếu ở góc độ một con người đời thường với sự bất lực, nhu nhược, khóc trong cơn mưa rừng Nhã Nam vì những giới hạn, ràng buộc không thể vượt qua của kiếp người.
    • Nhân vật là nhà thơ: Nguyễn Du trong Kiếm sắc và Vàng lửa hiện lên qua cái nhìn của Đặng Phú Lân và viên sĩ quan Phăng. Nguyễn Du được miêu tả với vẻ mặt nhàu nát vì đau khổ, nhân cách trong trẻo, giàu lòng trắc ẩn với nhân dân nhưng bất lực trước những quy luật chính trị và biến cố lịch sử.
  • Nhân vật dã sử:
    • Nhân vật là tướng: Đặng Phú Lân (Kiếm sắc) là kẻ sĩ tài năng, phò tá và can gián Nguyễn Ánh giữ vững cốt cách đế vương nhưng cuối cùng phải nhận cái chết bi thảm từ chính kẻ nắm giữ quyền lực; Phăng (Vàng lửa) là viên sĩ quan phương Tây thực dụng, tàn bạo nhưng đại diện cho góc nhìn lý tính, thực tế từ bên ngoài đối chiếu với văn hóa phương Đông.
    • Nhân vật là nữ nhi: Ngô Thị Vinh Hoa (Phẩm tiết, Kiếm sắc) là biểu tượng cho cái đẹp tuyệt đối, sự trinh bạch và phẩm tiết tinh thần cao quý, đứng trên mọi toan tính quyền lực của các bậc đế vương.
    • Nhân vật là cầu nối lịch sử: Quách Ngọc Minh, người Bồ Đào Nha... đóng vai trò lưu giữ tư liệu, tạo tính khách quan và dẫn dắt các lớp truyện lồng ghép.
Nhân vật Tác phẩm xuất hiện Loại nhân vật Đặc điểm tính cách và ý nghĩa biểu tượng
Gia Long (Nguyễn Ánh) Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết Lịch sử (Vua) Nhà chính trị thực tế, cô đơn, nhiều toan tính quyền lực, hành xử trần tục.
Quang Trung (Nguyễn Huệ) Phẩm tiết Lịch sử (Vua) Anh hùng nghĩa khí, giàu tình cảm đời thường, tôn sùng giá trị cái đẹp.
Hoàng Hoa Thám Mưa Nhã Nam Lịch sử (Tướng) Con người đời thường, mang nỗi giằng xé, cô đơn và giới hạn của cá nhân.
Nguyễn Du Kiếm sắc, Vàng lửa Lịch sử (Nhà thơ) Tâm hồn trong trẻo, giàu trắc ẩn nhân văn, thiếu năng lực chính trị thực tiễn.
Đặng Phú Lân Kiếm sắc Dã sử (Tướng/Kẻ sĩ) Trợ thủ trung thành, biểu tượng cho đạo đức kẻ sĩ, nạn nhân của quyền lực.
Phăng (Phơ-răng-xoa Pơ-ri-ê) Vàng lửa Dã sử (Tướng) Lăng kính phương Tây, thực dụng, phản chiếu sự va đập văn hóa và quyền lực.
Ngô Thị Vinh Hoa Phẩm tiết, Kiếm sắc Dã sử (Nữ nhi) Biểu tượng cái đẹp tinh khiết, vượt lên trên bạo lực và sự thống trị vương quyền.

2. Nhân vật lịch sử và dã sử trong bối cảnh văn học

Khóa luận mở rộng khảo sát các nhân vật thi nhân, văn nhân gắn với không gian sáng tạo văn chương như Hồ Xuân Hương trong Chút thoáng Xuân Hương, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ trong Nguyễn Thị Lộ. Qua đó, tác giả chỉ ra sự cô đơn của người nghệ sĩ tài hoa khi đối diện với định mệnh nghiệt ngã và xã hội phong kiến tù đọng.

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Chương 3 tổng kết các thủ pháp thi pháp tạo nên diện mạo độc đáo cho nhân vật:

  • Xây dựng nhân vật qua ngoại hình: Loại bỏ các khuôn mẫu ước lệ, trang nghiêm của văn học trung đại để miêu tả bằng những nét khắc họa hiện thực, góc cạnh (Nguyễn Du "mặt nhàu nát vì đau khổ", Nguyễn Ánh "lưng rất thẳng khi cưỡi ngựa", Vinh Hoa sinh ra với các dấu hiệu kỳ ảo nhưng dung mạo đời thực sống động).
  • Xây dựng nhân vật qua hành động: Đặt nhân vật vào các tình huống kịch tính, bất ngờ để bộc lộ bản chất sâu kín (Nguyễn Huệ xõa tóc, chạy chân đất báo tin cho Vinh Hoa; Đề Thám khóc trong mưa rừng; Nguyễn Ánh chém đầu Đặng Phú Lân).
  • Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ:
    • Ngôn ngữ đối thoại: Phá vỡ tính quy phạm, đưa khẩu ngữ đời thường, tiếng lóng, thậm chí các từ ngữ thô mộc, chợ búa hoặc kết hợp chất biền ngẫu vào lời thoại của vua chúa và tướng lĩnh, tạo cảm giác chân thực, sống động.
    • Ngôn ngữ độc thoại nội tâm: Khắc họa những băn khoăn, day dứt, nỗi bất lực và sự cô đơn sâu sắc của con người trước bản thể và lịch sử.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện thế giới nhân vật: Phân loại rành mạch các nhân vật trong mảng truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp thành hai trục (nhân vật lịch sử có thật trong chính sử và nhân vật dã sử do tác giả hư cấu), chỉ rõ chức năng thẩm mỹ của từng tuyến nhân vật.
  • Làm sáng tỏ thi pháp "giải thiêng" lịch sử: Chứng minh ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp không nhằm mục đích bóp méo lịch sử mà là một nỗ lực nghệ thuật nhằm đưa các nhân vật lịch sử từ bệ thờ linh thiêng trở về với vị thế con người bình thường bằng xương bằng thịt, mang đầy đủ khát vọng, điểm mạnh, điểm yếu và nỗi cô đơn hiện sinh.
  • Giá trị đóng góp so sánh liên văn bản: Đặt cách xây dựng nhân vật Nguyễn Ánh trong Kiếm sắc cạnh nhân vật Nguyễn Ánh trong truyện ngắn Dị hương của Sương Nguyệt Minh; chứng minh Kiếm sắc có chiều sâu triết luận và tính sáng tạo tiên phong vượt trội, tránh được sự sao chép cơ học hay bôi đen nhân vật một cách đơn điệu.
Tiêu chí so sánh Nhân vật Nguyễn Ánh trong Kiếm sắc (Nguyễn Huy Thiệp) Nhân vật Nguyễn Ánh trong Dị hương (Sương Nguyệt Minh)
Mục đích nghệ thuật Giải thiêng, mượn chuyện xưa để triết luận nhân sinh và đối thoại với thời đại. Tái hiện sự tầm thường hóa, giải thiêng nhân vật lịch sử.
Chiều sâu tính cách Đa mưu, kiên trì, sắc sảo chính trị, cô đơn, có đời sống nội tâm giằng xé. Trọng võ khinh văn, dâm tục, máu lạnh, hành xử theo lối thảo dân.
Mối quan hệ với bề tôi Đặng Phú Lân phò tá, can gián; bị chém đầu tạo nên cái chết kỳ lạ (máu trắng). Trần Huy Sán tận tụy, bị chém đầu lặp lại mô thức cái chết kỳ lạ của Phú Lân.
Giá trị nghệ thuật Sáng tạo nguyên bản, giàu chất suy tư và bút lực sắc bén. Mang dấu ấn ảnh hưởng và lặp lại mô thức của Kiếm sắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi ngữ liệu khảo sát của khóa luận chủ yếu giới hạn trong cuốn “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (NXB Văn hóa Sài Gòn, 2007) và tập trung vào các truyện ngắn lịch sử tiêu biểu; chưa mở rộng khảo sát toàn diện sự xuất hiện của yếu tố lịch sử/dã sử trong các thể loại khác của cùng tác giả như tiểu thuyết lịch sử hoặc kịch bản chèo (Vong Bướm, Truyền thuyết tìm vua).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với mảng kịch bản sân khấu và tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp.
    • Triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu thi pháp truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp với các cây bút văn xuôi lịch sử tiêu biểu khác của văn học Việt Nam đương đại.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Ngữ văn, Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Văn hóa học khi thực hiện tiểu luận, khóa luận, luận văn về văn xuôi thời kỳ Đổi mới.
  • Người nghiên cứu quan tâm trực tiếp đến chuyên đề tác giả Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt là phần phân tích thi pháp giải thiêng, nghệ thuật xây dựng nhân vật và kỹ thuật lồng ghép các kết thúc giả định trong truyện ngắn lịch sử.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa "nhân vật dã sử" trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp như thế nào?
Theo tác giả khóa luận, nhân vật dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thực chất là các nhân vật hư cấu hoàn toàn (như Phăng, Đặng Phú Lân, Ngô Thị Vinh Hoa, Quách Ngọc Minh), nhưng được tác giả phủ lên một lớp màu sắc dã sử và giao cho chức năng người ghi chép, chứng nhân hoặc người kể chuyện nhằm tạo độ khách quan nghệ thuật cho cốt truyện.

2. Hình tượng vua Gia Long trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có điểm gì khác biệt so với chính sử?
Khóa luận chỉ ra rằng thay vì hình ảnh "cõng rắn cắn gà nhà" mang tính định kiến trong sử sách cũ, Nguyễn Huy Thiệp đã tái hiện Gia Long là một con người bằng xương bằng thịt: vừa là nhà chính trị đa mưu, sắc sảo, thấu hiểu quy luật xã hội; vừa là một cá nhân cô đơn, bất lực trước ngai vàng, biết say đắm trước cái đẹp và sử dụng ngôn ngữ đời thường thô mộc.

3. Ý nghĩa của ba kết đoạn giả định trong truyện ngắn Vàng lửa được luận văn phân tích ra sao?
Luận văn phân tích ba kết thúc như ba hướng chiêm nghiệm: Kết cục thứ nhất (Phăng bị đầu độc) thể hiện sự nham hiểm của quyền lực và tính mong manh của kinh nghiệm sống; Kết cục thứ hai (Phăng sống sung sướng về già) phản ánh cái nhìn thiên kiến của phương Tây xem lịch sử xứ sở chỉ bắt đầu khi có sự xuất hiện của họ; Kết cục thứ ba (đoàn tìm vàng bị sát hại) phê phán chính sách bế quan tỏa cảng, cô lập xã hội của triều đình phong kiến.

4. Khóa luận phân tích tâm thế nhân vật Đề Thám trong Mưa Nhã Nam ở phương diện nào?
Tác giả khóa luận tập trung phân tích hình ảnh Đề Thám trong tư cách một con người đời thường đầy giằng xé và bất lực. Chi tiết Đề Thám òa khóc trong cơn mưa rừng Nhã Nam được nhìn nhận là sự thức nhận đau đớn về những giới hạn hữu hạn của cá nhân trước số phận và những ràng buộc không thể vượt qua.

5. Luận văn so sánh nhân vật Nguyễn Ánh giữa Kiếm sắc (Nguyễn Huy Thiệp) và Dị hương (Sương Nguyệt Minh) nhằm mục đích gì?
Việc so sánh nhằm làm rõ tính độc bản và sáng tạo tiên phong của Nguyễn Huy Thiệp. Trong khi Nguyễn Huy Thiệp xây dựng Nguyễn Ánh với chiều sâu tính cách và triết luận sâu xa về thời đại, thì nhân vật Nguyễn Ánh trong Dị hương bị giản lược thành kẻ dâm tục, vô học và lặp lại mô thức nghệ thuật của Kiếm sắc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thu Hằng là công trình nghiên cứu nghiêm túc, khảo cứu có hệ thống mảng đề tài nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Thông qua việc phân loại các tuyến nhân vật và phân tích các phương diện thi pháp (ngoại hình, hành động, ngôn ngữ), tác giả đã làm nổi bật quan niệm nghệ thuật độc đáo cùng bút lực giải thiêng giàu chất triết luận của nhà văn. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật xác đáng, góp phần hoàn thiện bức tranh nghiên cứu về hiện tượng văn học Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh Đổi mới văn học Việt Nam.