Mở đầu là một vài truyện ngắn được đăng trên báo Văn nghệ năm 1986, lúc bấy giờ tác phẩm của ông chưa gây được tiếng vang trong dư luận. Chỉ đến khi Tướng về hưu được ra mắt bạn đọc năm 1987, và sau đó chùm truyện Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết liên tiếp được xuất hiện vào tháng 4 năm 1988 thì Nguyễn Huy Thiệp mới thực sự là cái tên “nổi đình đám” trong làng văn chương lúc bấy giờ. Gần 40 tuổi Nguyễn Huy Thiệp mới cho in truyện ngắn đầu tiên, nhưng chỉ sau vài năm ông đã trở thành một “hiện tượng” khiến văn đàn phải xôn xao. Ngay cả một nhà văn tầm cỡ như Nguyễn Khải, sau khi đọc Tướng về hưu còn hoảng sợ nói rằng: “Tôi cầm bút cả đời, nhưng may ra tôi viết được một phần ba truyện như vậy” [36].
Hà Thanh Vân SVTH: Lê Thị Thu Hằng 13 Sở trường của Nguyễn Huy Thiệp là viết truyện ngắn. Mảng đề tài mà ông viết rất đa dạng gồm: Lịch sử và văn học, hơi hướng huyền thoại và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê và những người lao động. Hơn 40 truyện ngắn của ông chủ yếu được in trong các tập: Những ngọn gió Hua Tát (Văn Hóa, Hà Nội, 1989), Con gái thủy thần (Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1993), Xuân Hồng (Tân Thư, California, 1994), Như những ngọn gió (Văn Học, Hà Nội, 1995), Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Huy Thiệp (Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1995), Thương cả cho đời bạc (Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội, 2000), Mưa Nhã Nam (Văn Học, Hà Nội, 2001), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Phụ Nữ, Hà Nội, 2001), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Nxb Trẻ, 2003), Những truyện huyền thoại và lịch sử (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện thành thị (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện nông thôn (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện danh nhân (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện tình yêu (Nxb Hội nhà văn, 2004), Cánh buồm nâu thuở ấy (Hội nhà văn, 2005), Tình yêu, tội ác và trừng phạt (Tp.HCM, 2012), Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt (Tp. Ngoài sáng tác truyện ngắn, tác giả “Tướng về hưu” còn viết tiểu thuyết và thơ.
Tiểu thuyết của ông viết số lượng còn ít và cũng chưa nổi trội bằng mảng truyện ngắn, gồm một số tác phẩm như: Tiểu Long Nữ (Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1996), Tuổi hai mươi yêu dấu (Nhà xuất bản E’ditions de l’Aube, 2002), Gạ tình lấy điểm (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2007). Kịch của Nguyễn Huy Thiệp được tập trung trong các tập: Suối nhỏ êm dịu (Báo Văn nghệ, California, 2001), Mổ nhà văn (Trang mạng Talawas, Thích Thiện Ngân), Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp (Nxb Trẻ, 2003) với những vở tiêu biểu như: Xuân hồng, Còn lại tình yêu, Gia đình, Nhà tiên tri, Hoa Sen nở ngày 29 tháng 4. Trong cuốn kịch bản chèo Vong Bướm (Nxb Nhã Nam, 2012) gồm có hai tác phẩm là: Vong Bướm và Truyền thuyết tìm vua, đây là cuốn kịch bản chèo đầu tiên mà Nguyễn Huy Thiệp viết. Nguyễn Huy Thiệp sáng tác thơ nhiều, tuy chưa có tập thơ nào được xuất bản nhưng thơ xuất hiện khá nhiều trong những truyện ngắn của ông.
Một số tác phẩm GVHD: TS. Hà Thanh Vân SVTH: Lê Thị Thu Hằng 14 của ông còn được dựng thành phim như: Tướng về hưu, Thương nhớ đồng quê (Ðạo diễn: Ðặng Nhật Minh), Những người thợ xẻ. Ngoài ra, thơ của ông còn được xuất hiện trong kịch bản chèo Vong Bướm, với những câu thơ lục bát vừa buồn lại vừa tươi sáng. Sự đa tài của Nguyễn Huy Thiệp chưa dừng lại ở đó, ngoài những sáng tác trên ông còn viết tiểu luận phê bình trên báo chí.
Năm 2004, ông viết Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn, bài viết này được phôi thai khi nhà văn đi chơi (vào ngày mồng 3 tết Giáp Thân) cùng với bạn của mình là Thích Thiện Ngân (bút danh), trên đường đi lên vùng núi Kim Bôi - Hòa Bình ông đã nói những suy nghĩ của mình về văn học với bạn, ít lâu sau bài viết được ra đời. Trong bài viết này nhà văn đã nêu lên suy nghĩ cá nhân về: Vẻ đẹp của văn học, Doping văn học, Văn học hiện nay thiếu gì?. Những suy nghĩ của ông đã tạo ra những tranh luận sôi nổi trong giới văn chương suốt một thời gian dài trên Báo Văn nghệ và một số trang mạng tại Việt Nam. Ông còn viết tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu và ghi chú, những bài viết này được tập hợp trong cuốn Giăng lưới bắt chim.
Trong cuốn sách này đã tập hợp những bài viết của Nguyễn Huy Thiệp như: Một góc sơ xuất trong thế giới nội tâm nhà văn (đăng trên Tạp chí Đất Quảng số 62/1989), Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1991), Con đường của nhà thơ (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1992), Con đường văn học (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1992), Nhà văn và bốn trùm mafia (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1992), Bàn thêm về quà phở của người Hà Nội (đăng trên báo Tiền Phong - 2000), Lưới thơ (đăng trên báo Tiền Phong 4/7/2000), Xong rồi chả biết đi đâu (đăng trên báo Tiền Phong), Cười lên đi! (đăng trên báo Tiền Phong 5/62000), Không nhạt (đăng trên báo Tiền Phong 1/6/2000), Chuyện điên điên (đăng trên báo Tiền Phong - 2000), Giá phải chăng (đăng trên báo Tiền Phong - 2000), Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi (đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam - 2001), Cua ngoi lên bờ mẹ em xuống cấy (đăng trên báo Tiền Phong), Sao cứ đùa anh là Thạch Nhọn? (đăng trên báo Tiền Phong), Lê Kim Giao: tên nghiện văn chương (đăng trên báo Tiền Phong), Nguyễn Bảo Sinh, nhà thơ dân gian (đăng trên báo An GVHD: TS. Hà Thanh Vân SVTH: Lê Thị Thu Hằng 15 ninh thế giới - 2003), Giới thiệu Đồng Đức Bốn (đăng trên tạp chí Nhịp Cầu và tạp chí Văn hóa văn nghệ - 2003), Xin đừng làm chữ của tôi đau (đăng trên báo Tia Sáng - 2003), Hiện tượng Vi Thùy Linh (đã đăng trên Tạp chí Sinh Viên và Tạp chí Văn Hiến), Lòng mẹ (đã đăng trên báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh số Tết Nguyên Đán - 2000), Giăng lưới bắt chim (Bài viết cho Tạp chí Phật học, đăng lại trên báo Tiền phong - 2001), Thời của tiểu thuyết 1,2,3 (Bài viết cho báo Thế giới Văn hóa - 2003). Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp (chủ yếu là thể loại truyện ngắn) đã gây được tiếng vang trong dư luận, chính vì thế mà những ý kiến xung quanh tác phẩm của ông vô cùng nhiều, phải kể đến hàng trăm hoặc hơn thế nữa. Những ý kiến, nhận định, phê bình đó có cái thì khen, có cái thì chê bai phê phán, nói chung lại thì “hiện tượng” Nguyễn Huy Thiệp đã tạo thêm cho giới văn chương và người đọc một lượng “đất” không hề nhỏ để cho họ bày tỏ ý kiến của mình và những ý kiến này đã được tập trung vào tập: Nguyễn Huy Thiệp - Tác phẩm và dư luận (Tạp chí Sông Hương Nxb Trẻ, Huế, 1989), Nguyễn Huy Thiệp - Tác phẩm và dư luận (Hồng Lĩnh, California, 1991, tái bản), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (Phạm Xuân Nguyên, 2001).
Những cuốn sách trên chỉ gom góp được phần lớn những ý kiến, nhận định về Nguyễn Huy Thiệp cũng như về tác phẩm của ông, phần còn lại là những bài luận văn đại học, sau đại học lấy những tác phẩm của ông làm nguồn tư liệu để viết bài thì vẫn còn nằm rải rác trên các trang mạng, tạp chí, báo và trong kho tư liệu của các trường đại học trên cả nước. Sau hơn 30 năm cầm bút cống hiến cho nền văn học nước nhà, Nguyễn Huy Thiệp đã giành được những thành tựu xứng đáng với tài năng của ông. Những tác phẩm của ông không chỉ được giới văn học trong nước biết đến mà còn vươn ra ngoài thế giới. Năm 1990, tác phẩm Tướng về hưu, Trái tim của hổ, Sói trả thù, Chuyện tình kể trong đêm mưa, Vàng lửa, Suối nhỏ êm dịu được dịch sang tiếng Pháp.
Một thời gian sau truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn GVHD: TS. Hà Thanh Vân SVTH: Lê Thị Thu Hằng 16 Quốc, Nhật Bản., chính như vậy mà độc giả nước ngoài có điều kiện để biết thêm về nền văn học cũng như đất nước, con người và nền văn hóa truyền thống của con người Việt Nam. Nguyễn Huy Thiệp sau đó đã giành được những giải thưởng đánh dấu thành công trong sự nghiệp của ông: Năm 2007, ông được đại sứ Pháp ở Việt Nam trao tặng Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp; năm 2008, ông nhận giải thưởng Premio Nonino, Italy. Hệ thống khái niệm 1.
Khái niệm “truyện ngắn” Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin: “Truyện ngắn là truyện bằng văn xuôi, có dung lượng nhỏ, miêu tả những khía cạnh nhất định trong cuộc đời của nhân vật”[22; 809]. Khái niệm “truyện ngắn” này khá ngắn gọn và dễ hiểu, nó cho phép chúng ta nắm bắt cái cốt lõi chính của khái niệm này. Có một khái niệm “truyện ngắn” đầy đủ hơn trong cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân chủ biên: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ.
Những nét riêng – “có chuyện” và “ngắn” – vốn đã có ở các tác phẩm thể truyện thời trung đại, ở các hình thức chuyện kể dân gian (truyện cười, giai thoại, cổ tích…), nhưng truyện ngắn với đặc điểm thể tài riêng biệt chỉ thực sự phát triển ở các nền văn học hiện đại, gắn với sự xuất hiện và phát triển của báo chí (…). Truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong mối quan hệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người. Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo. Nhân vật truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn, thường khi là hiện thân cho một GVHD: TS.
Hà Thanh Vân SVTH: Lê Thị Thu Hằng 17 trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người”[7; 345, 346]. Như vậy “truyện ngắn” là những tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường viết bằng văn xuôi và nó đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội.