Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về truyện truyền kì 1. Khái niệm Thể loại truyền kỳ có nhiều định nghĩa Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992 thì “kỳ” có nghĩa là lạ lùng. Theo tác giả Đoàn Lê Giang trong bài viết “Vũ nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ” thì “kỳ là cái khác thường, cái hiếm có thậm chí là không hề có trong hiện thực” [25, tr.
Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: Tiểu thuyết truyền kì còn gọi là truyện truyền kì và được xác định như sau: “Thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở đời Đường… Kì nghĩa là không có thực nhấn mạnh tính chất hư cấu. Thoạt đầu tiểu thuyết truyền kì mô phỏng truyện chí quái thời Lục triều, sau phát triển độc lập. Có loại miêu tả cuộc đời biến ảo như mộng. có loại ca ngợi tình yêu nam nữ… có loại miêu tả hào sĩ hiệp khách…” [28, tr.
Các tác giả Từ điển văn học (bộ mới) giới thuyết về khái niệm này đầy đủ, chi tiết hơn: “Một hình thức văn xuôi tự sự Trung Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng các môtip kì quái, hoang đường lồng vào trong cốt truyện có ý nghĩa trần thế (…) Tuy nhiên trong truyện bao giờ cũng có nhân vật là người thật và chính nhân vật mang hình thức phi nhân thì cũng chỉ là sự cách điệu, phóng đại của tâm lí, tính cách một loại người nào đấy, và vì thế truyện truyền kì mang đậm yếu tố nhân bản, có giá trị nhân bản sâu sắc” [29, tr. 7 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Như vậy, định nghĩa về thể loại này khá thống nhất. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất truyền kì là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại được đặc trưng bởi tính chất hư cấu, kì lạ trong nhân vật, cốt truyện, nhằm phản ánh hiện thực cuộc sống. Quá trình phát triển Truyện truyền kì hay còn gọi là tiểu thuyết truyền kì là một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc xuất hiện vào đời Đường.
Xuất hiện trong văn học với tư cách là một thể loại truyện văn xuôi tự sự, tiểu thuyết truyền kì bắt đầu có từ thời Ngụy - Tấn, Nam Bắc Triều (Trung Hoa) (khoảng từ thế kỉ thứ III đến đầu thế kỉ VI) với tên gọi đầu tiên là chí nhân, chí quái. Chúng bắt nguồn từ những chuyện trong dân gian. Tuy khoác áo hoang đường kì ảo, nhưng phần lớn chí nhân, chí quái thời này vẫn phản ánh được ở một mức độ nhất định hiện thực cuộc sống đương thời. Đó là lối sống hủ bại của giai cấp phong kiến, nỗi khổ của người dân lao động, niềm mơ ước của họ về một xã hội công bằng tốt đẹp và tinh thần đấu tranh bất khuất của họ chống cường quyền.
Truyện truyền kì thời Đường ra đời trên cơ sở truyện chí quái thời Lục triều (Thế kỉ III - Thế kỉ VI), tiêu biểu là các truyện: U minh lục; Bạch Vân truyện; Du tiên quật… Truyện chí quái là một thể loại văn xuôi tự sự trong văn học Trung Quốc, thường ghi chép lại những điều li kì, quái đản, xuất hiện dưới thời Lục triều. Nội dung rất phức tạp, có loại ghi những câu chuyện kì lạ về địa lý, động thực vật, có truyện mang tính chất dã sử, có chuyện kể về những truyện thần quái… Đằng sau yếu tố hoang đường kì ảo là hiện thực mà tác giả muốn đề cập đến, rồi chuyển sang tình yêu tài tử giai nhân, tiêu biểu là các truyện Lý Oa truyện, Oanh Oanh truyện. Đây cũng là thời kì phát triển cao của tiểu thuyết truyền kì với nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng. Yếu tố thần kì trong giai đoan này không phải do lực lượng siêu nhiên được nhân hóa như truyện thần thoại hay như trong truyện cổ tích mà phần lớn ở ngay hình thức 8 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn “phi nhân tính” của nhân vậy như hồn ma, hồ ly… tuy nhiên trong truyện bao giờ cũng có nhân vật là người.
Đến thời kì cuối, truyện truyền kì nổi bật với truyện về hào khí hiệp khách. Đến thời Minh - Thanh thì tên gọi truyền kì không chỉ dùng để chỉ một thể loại tự sự mà nó còn dùng để chỉ loại văn học diễn xướng. Thời kì Minh - Thanh cũng là một trong những giai đoạn phát triển đến đỉnh điểm của truyền kì, chí dị, trong đó nổi bật hai tên tuổi lớn là Cù Hựu - tác giả Tiễn đăng tân thoại và Bồ Tùng Linh - tác giả Liêu trai chí dị. Theo các nhà nghiên cứu thì hơn mười thế kỉ hình thành và phát triển, truyện truyền kì Trung Quốc đã để lại những thành tựu rực rỡ và có sức ảnh hưởng lớn đến nền văn học của các nước đồng văn trong khu vực.
Trong đó, tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu có sức lan tỏa mạnh nhất, rõ rệt nhất, thúc đẩy sự ra đời các tập truyện truyền kì ở ba nước Đông Á còn lại như Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (1435 - 1493, Triều Tiên), Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (đầu thế kỉ XVI, Việt Nam), Già tỳ tử của Asai Ryohi (1612 - 1691, Nhật Bản). Kim Ngao tân thoại hoàn thành vào khoảng giữa thế kỉ XV, là tiểu thuyết Hán văn đầu tiên của Hàn Quốc, có giá trị cao trong văn học cổ điển nước này. Già tỳ tử cũng có một vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản, dù không phải là truyện thần quái đầu tiên, nhưng là tác phẩm điển hình theo kiểu truyện truyền kì của Nhật. Truyện truyền kì Việt Nam có nguồn gốc từ truyện truyền kì Trung Quốc nhưng có quá trình hình thành và phát triển gắn với nền văn hóa và văn học dân tộc đặc biệt là với văn hóa dân gian và văn xuôi lịch sử.
Cũng giống như các thể loại Hịch, Chiếu, Cáo, thể truyện truyền kì Trung Hoa được ông cha ta tiếp nhận trên tinh thần sáng tạo với những sắc thái tâm lý, phong tục, ngôn ngữ, địa danh riêng biệt của Việt Nam. Truyện truyền kì Việt Nam đã lấy con người với cuộc sống đời thường của họ làm đối tượng chủ yếu để phản ánh. Nội dung cơ 9 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn bản của truyền kì Việt Nam là viết về tình yêu tự do nam nữ, về kiếp sống khổ đau của những người bất hạnh, về xã hội đầy rẫy bất công đáng lên án… Truyện truyền kì Việt Nam ra đời ngay từ thế kỉ đầu X và chúng tồn tại suốt thời trung đại. Số lượng tác phẩm truyền kì Việt Nam tuy không nhiều nhưng cũng đủ để tạo nên một khuôn mặt có đường nét riêng mang bản sắc dân tộc.
Theo PGS Nguyễn Đăng Na, truyện truyền kì Việt Nam tồn tại và phát triển từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, thể truyền kì phát triển qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV Đây là giai đoạn hình thành truyền kì Việt Nam, các tác phẩm chỉ mới chứa đựng yếu tố truyền kì. Chúng có đặc điểm là, chưa tách khỏi văn học dân gian cũng như văn học chức năng hành chính và lễ nghi Tác phẩm gồm hai loại chính: Một là, truyện dân gian do sưu tầm, ghi chép, chỉnh lí; hai là, truyện lịch sử dân tộc và truyện lịch sử tôn giáo (bao gồm cả các truyện về lễ nghi, tín ngưỡng, phong tục tập quán…). Tiêu biểu cho loại thứ nhất có Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp. Loại thứ hai lại chia làm hai nhóm.
Nhóm một là những tác phẩm phản ánh trực tiếp lịch sử dân tộc như Ngoại sử kí của Đỗ Thiện, phần Ngoại kỉ trong sách Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu…; nhóm hai là các tác phẩm gắn với lịch sử tôn giáo (lễ nghi, tập tục, tín ngưỡng…) gồm: Báo cực truyện (khuyết danh), Việt điện u linh tập của Lí Tế Xuyên, Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh), Tổ gia thực lục (khuyết danh),… Nếu xếp tác phẩm mang yếu tố truyền kì ở thế kỉ X-XIV theo thời gian, ta sẽ có: Báo cực truyện thế kỉ XI, Ngoại sử kí thế kỉ XII, Ngoại kỉ thế kỉ XIII, Việt điện u linh tập nửa đầu thế kỉ XIV, Ngữ lục giữa thế kỉ XIV, Tổ gia thực lục nửa sau thế kỉ XIV, Lĩnh Nam chích quái lục cuối thế kỉ XIV… Mặc dù chưa thoát khỏi văn học dân gian và văn học chức năng, truyền kì thế kỉ X- XIV giữ vị trí quan trọng: đặt nền móng về nội dung cũng như phương thức tư duy nghệ thuật cho dòng truyền kì sau này. 10 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Do truyền thống truyện dân gian và yêu cầu của lịch sử, truyền kì thế kỉ X-XIV chủ yếu tập trung vào việc khẳng định nước Việt là một quốc gia độc lập, có lịch sử lâu đời từ thời các vua Hùng, An Dương Vương,…; có lãnh thổ, có quyền và có tương lai trường tồn. Đất nước Việt đâu đâu cũng có anh tài. Nhân kiệt, địa linh, hạo khí núi sông là những nhân tố đảm bảo cho tương lai dân tộc, là điểm tựa tinh thần cho người Việt vượt qua những cơn hiểm nghèo.
Một đất nước như vậy sẽ không thế lực nào có thể xâm phạm được. Với nội dung ấy, nhân vật trong truyện phần lớn là những anh hùng Việt Nam thời xa xưa được truyền thuyết hoá, thần thánh hoá, mang tầm vóc sử thi. Về nghệ thuật, các môtíp dân gian như, “thụ thai thần kì”: có thai do ướm vết chân (Đổng Thiên vương), bước qua người (Man nương), mặt trời rơi vào bụng (Huyền Quang), hoa sen mọc từ bụng (Lê Hoàn), do thần quan hệ (Hà Ô Lôi)…; “ra đời thần kì”: đẻ ra trứng, đẻ ra bọc (họ Hồng Bàng, Hà Ô Lôi…), lúc ra đời có ánh sáng lạ, có hương thơm ngào ngạt (các thiền sư trong Tổ gia thực lục, Ngữ lục…); “xuống thuỷ phủ” (họ Hồng Bàng, Ngư tinh…); “lên trời” (Đổng Thiên vương); “diệt yêu quái” (Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh…); “người xấu có giọng hát ngọt ngào làm mê đắm các cô nàng xinh đẹp” (Hà Ô Lôi), “duyên kì ngộ” (Đầm Nhất Dạ…); “chết kì lạ” (hoá đá, hoá cây, thành thần, hoặc ngồi kiết già…),… là cơ sở cho sự ra đời loại hình truyền kì đích thực ở giai đoạn tiếp theo.