Mở đầu cũng như kết thúc khúc ca anh hùng, Đăm San hiện lên dũng cảm chống lại tập tục cũ, chống lại thần quyền, những sức ỳ của thời đại cũ.” (Y Điêng, Y Ông và các tác giả khác, 1983, Xing Nhã, Đăm Di - hai bản trường ca của người Êđê và Giarai tr. Cũng trong năm 1963, Cao Huy Đỉnh có bài viết “Dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp trong một số truyện cổ Đông Nam Á”. Theo nhà nghiên cứu này, nhân vật dũng sĩ tiêu biểu cho cái thiện, tinh thần anh hùng, hào hiệp, có sức khỏe, tài ba và đức độ, dũng cảm trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội; luôn luôn bảo vệ cái tốt, cái đẹp, bảo vệ tình yêu, kẻ hèn yếu. Cao Huy Đỉnh đã chia ra hai mẫu dũng sĩ , một thuộc xã hội cộng đồng thị tộc, một thuộc xã hội có giai cấp (Cao Huy Đỉnh, 1963, Dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp trong một số truyện cổ Đông Nam Á).
Năm 1965, trong công trình Truyện cổ Ba - na, nhóm truyện về nhân vật dũng sĩ chiếm một tỉ lệ lớn. Có thể nêu ra một số truyện tiêu biểu trong số đó như: Con hổ sáu đuôi, Di - ông, Đánh giặc, Dông Đư đánh cháu trời, Anh hùng Đam Dông, Anh hùng Dông Tư, Tia oong Tư kén vợ,. Theo chú thích của Ngọc Anh ở Lời giới thiệu sách thì dũng sĩ Dông “ Người GiaRai gọi là Giơn, người Hà - lan, Xê-đang gọi là 12 Đi-ông, người Xơ - rê, Mơ-nông gọi Dông” (Nhiều tác giả, 1965, Truyện cổ Ba - na, tr. Điều ghi chú ấy ít nhiều cho phép người đọc biết rằng nhóm truyện về nhân vật dũng sĩ Dông được truyền kể không chỉ trong phạm vi các địa phương người Ba Na mà còn ở các dân tộc láng giềng khác nữa.
Cũng theo Ngọc Anh: “Ngoài kho tàng truyện cổ dân gian phong phú, đồng bào Ba-na còn có nhiều trường ca (hơ-môn) nổi tiếng như: Dông Đư, Dông Men, Rốc Xết…, lời thơ sinh động, mang phong thái anh hùng ca, ca ngợi thiên nhiên hùng vĩ, con người to lớn và khát vọng phi thường, kể ngót đêm ngày không dứt .” (Nhiều tác giả, 1965, Truyện cổ Ba - na, tr. Năm 1978, công trình Truyện cổ Ê - Đê do Y Điêng và Hoàng Thao sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, gồm 24 truyện. Theo các tác giả của công trình này, phần lớn án tiến sĩ những câu chuyện đều hướng vào sự chống “áp bức”. Nhân vật trung tâm là những chàng trai tài giỏi, khéo léo, có ý chí sắt đá chống lại các tù trưởng - Mơ tao, các ác thần, hung thần - những kẻ áp bức họ, gia đình họ và cuộc sống của dân làng.
Tuy nhiên, chiến thắng của các chàng trai còn nhờ phần lớn vào thế lực huyền bí nào đó hoặc do yếu tố ngẫu nhiên mà bản thân họ chưa đủ để quyết định chiến thắng đó (Y Điêng, Hoàng Thao, 1978, Truyện cổ Ê - Đê ). Trong công trình Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1983), nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn khẳng định sử thi Tây Nguyên là những câu chuyện ca ngợi các nhân vật anh hùng, là nhân vật tù trưởng, tộc trưởng nổi tiếng ở các buôn làng. Những nhân vật ấy đã có công hướng dẫn nhân dân trong cộng đồng làm ăn (làm nương rẫy, đi săn, đi bắt cá.) để đạt đươc cuộc sống ấm no; hoặc là những người cầm đầu nhân dân lập được những chiến công vang dội, đánh thắng giặc cướp ở bên ngoài tới, đảm bảo cuộc sống yên vui của cộng đồng. Lần lượt được công bố những năm sau đó, các công trình nghiên cứu của Võ Quang Nhơn là bài viết, chuyên luận như: Về sử thi anh hùng của các dân tộc ở Tây Nguyên Việt Nam (Tạp chí Văn học, 1987); Sử thi anh hùng Tây Nguyên (NXB Giáo dục, 1997) đã thể hiện đầy đủ quan điểm và nhận thức của ông về sử thi các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Theo nhà nghiên cứu này, chủ đề lớn thứ 13 nhất của sử thi anh hùng Tây Nguyên là “ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật anh hùng đã có công bảo vệ xã hội cộng đồng, đồng thời qua đó khẳng định một cách đầy tự hào sự tồn tại và phát triển của xã hội cộng đồng” (Võ Quang Nhơn, 1997, Sử thi anh hùng Tây Nguyên, tr. Về đặc thù của sử thi anh hùng Tây Nguyên, Võ Quang Nhơn nhấn mạnh: “Âm điệu nổi bật mang ý nghĩa xã hội - lịch sử lớn của các sử thi là ca ngợi chiến công của nhân vật anh hùng trên chiến trường, ca ngợi những chiến tích oanh liệt của họ trong việc múa khiên, đọ dao với kẻ thù để bảo vệ thị tộc, bộ lạc của mình. Nhưng sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không đề cập tới một nội dung khác, cũng không kém phần quan trọng trong nghiên cứu sử thi anh hùng: đó là chiến công lao động cũng không kém phần hào hùng, kì vĩ của các nhân vật anh hùng” (Võ Quang Nhơn, 1997, Sử thi anh hùng Tây Nguyên, tr. án tiến sĩ Các đặc điểm thi pháp của sử thi anh hùng như cách nói ví von giàu hình ảnh, biện pháp phóng đại, ngoa dụ; ngôn ngữ giàu kịch tính, nhạc điệu,.
cũng được chuyên luận nhấn mạnh, chứng minh (Võ Quang Nhơn, 1997, Sử thi anh hùng Tây Nguyên). Năm 1984, trong công trình Truyện cổ Cơ - ho, viết lời giới thiệu Tạ Văn Thông và Võ Quang Nhơn khẳng định ở kho tàng truyện cổ của người Cơ Ho loại truyện về người dũng sĩ chiếm tỉ lệ khá lớn, nhân vật có nhiều nét thần kì, lãng mạn, gần gũi với thần thoại, kế thừa truyền thống thần thoại khá đậm. Nhân vật dũng sĩ là linh hồn trong những truyện cổ, lập nhiều chiến công, kì tích: đánh, diệt rắn bảy đầu, tinh cọp, thần linh, tù trưởng gian ác, vua chúa, đắp đập chống hạn cứu dân. Hành động của các nhân vật dũng sĩ đều nhằm đạt tới mục đích vì sự sống còn và quyền lợi của cộng đồng (Tạ Văn Thông, Võ Quang Nhơn, 1984, Truyện cổ Cơ - ho).
Trong lời giới thiệu in đầu sách H'mon Đăm Noi trường ca dân tộc Bahnar (1985): Đăm Noi, Phù Đổng của dân tộc Ba Na, tác giả Lê Anh Trà nhận xét: “Phải chăng trong Noi có những nét tương tự như ở vị anh hùng thiếu niên Phù Đổng của người Kinh, có điều giặc Ân là có thật, còn Drang hạ - Drang hơm chỉ là biểu tượng cho sự xâm lược .”, “ Noi không chỉ chiến đấu như một tù trưởng giàu mạnh quyết giành lại người yêu hay vợ bị một tù trưởng khác bắt đi, hoặc trả 14 một nợ máu dòng họ, mà Noi chiến đấu cho một mục đích, một lý tưởng cao hơn: đó là số phận của cả bộ tộc mình và của nhiều bộ tộc khác của vùng lưu vực sông Ba rộng lớn - tránh khỏi một tai họa diệt chủng” (Phạm Thị Hà - Tô Ngọc Thanh, 1985, H'mon Đăm Noi trường ca dân tộc Bahnar, tr. Giới thiệu công trình Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên, (NXB Văn học, Hà Nội, 1985), Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “. có thể phân thành một loại truyện cổ tích về các dũng sĩ phản ánh giai đoạn dân chủ quân sự, giai đoạn tranh chấp giữa các tộc người và giữa các địa phương để hình thành các nhà nước sơ khai, một giai đoạn mà xã hội Trường Sơn - Tây Nguyên trải qua vào những thế kỷ cách đây chưa xa lắm” (tr. Năm 1986, tác giả Vũ Hùng trong lời giới thiệu cho công trình Truyện cổ Xơ Đăng có nhận xét: án tiến sĩ “Hình tượng chàng trai khỏe, tài giỏi mưu trí hơn người phổ biến trong truyện của các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên và một số các dân tộc khác.
Họ là những anh hùng luôn đứng về phía điều thiện, phía nhân dân, chống điều ác, bảo vệ bản làng trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xã hội” (tr. Đồng thời, Vũ Hùng nhấn mạnh việc nghiên cứu truyện cổ Xơ Đăng không chỉ nhằm mục đích bảo lưu, phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc này mà đó còn là những tư liệu khoa học quý báu giúp bạn đọc tìm hiểu thêm về xã hội, cuộc sống con người Xơ Đăng của một thủa xa xưa (Vũ Hùng, 1986, Truyện cổ Xơ Đăng). Năm 1988, công trình Đam Săn - Sử thi Ê - đê với phần văn bản song ngữ Ê Đê - Việt được chú thích tỉ mỉ; là một dấu mốc quan trọng trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Tây Nguyên. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn trong Lời giới thiệu cho công trình đã nhận xét nhân vật Đam Săn là “con người của thị tộc mẫu hệ”, có “sức mạnh và dũng khí trong chiến đấu và sản xuất.
Hành động và kỳ tích có tính chất sử thi” (tr. Đặc biệt, nhân vật Đam Săn được khắc họa là con người có “sức mạnh thể lực và lòng dũng cảm, đó là những phẩm chất chủ yếu của nhân vật anh hùng sử thi. Vì lẽ gì mà hình tượng nhân vật anh hùng Đam Săn lại chứa đầy tinh thần “ thượng võ cổ đại” như thế, là bởi: “. chiến đấu với thú dữ, với núi cao, sông sâu, với kẻ thù hung ác, giàu mạnh 15 từ nơi khác đến cướp phá, đòi hỏi con người phải có sức mạnh của thiên thần, của dũng sĩ, của nam giới.
Nhân vật anh hùng sử thi xuất hiện là gương mặt anh hùng nam giới vì con người muốn tồn tại và phát triển phải nhanh chóng vượt ra khỏi thời kì dã man với lao động hái nhặt, để đối đầu với mãnh thú, san đồi, chặt cây. Về đặc điểm và vai trò của cốt truyện đối với việc làm nổi bật hình tượng nhân vật anh hùng Đam Săn, Nguyễn Văn Hoàn nhận xét “Toàn bộ cốt truyện nêu lên số phận và đặc biệt là những hành động có tính chất sử thi của nhân vật anh hùng Đam Săn. Có thể nói, khi toàn bộ những phẩm chất chủ yếu của Đam San đã bộc lộ đầy đủ, hoàn chỉnh thì truyện kể cũng dừng lại” (Nguyễn Văn Hoàn, 1988, Đăm Săn sử thi Ê - đê, tr. Trong bài nghiên cứu “Langbian và sự thống nhất các dân tộc ở Lâm Đồng” án tiến sĩ (Tạp chí Langbian số 1/1988), Nguyễn Diệp khẳng định hình tượng nhân vật dũng sĩ Lang (Sự tích Lang Bian) là biểu tượng của lòng chung thủy, tinh thần đấu tranh vì hạnh phúc, phản kháng những luật tục lạc hậu, dám lấy cái chết của bản thân để hóa giải mối thù bao đời giữa các tộc người,.