mở đầu cho việc nghiên cứu truyền thuyết về các thần linh nƣớc Việt. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHÂN VẬT THẦN LINH TỪ 1954 ĐẾN 1975 Sang hòa bình lập lại 1954, trong không khí hào hứng của miền Bắc đất nƣớc đƣợc giải phóng, với cảm hứng tôn vinh lịch sử, việc sƣu tầm, biên soạn và nghiên cứu văn học dân gian ghi dấu ấn với những bƣớc đi mới. Đó là sự ra đời của một loạt các công trình nghiên cứu về các truyền thuyết, thần thoại cũng nhƣ truyện cổ tích liên quan đến thần linh nhƣ: Truyện cổ tích Việt Nam (1957, Vũ Ngọc Phan), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, Nguyễn Đổng Chi, Văn Tân, Hồng Phong), Lược khảo về thần thoại Việt Nam (1959, Nguyễn Đổng Chi). Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam (cùng xuất bản năm 1957) thuật ngữ truyền thuyết đã xuất hiện.
Các nhà khoa học nhƣ Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh không xem truyền thuyết là một thuật ngữ của khoa nghiên cứu văn học dân gian. Hai tác giả đã khảo sát nhân vật thần nhƣ một sản phẩm văn học dân gian, một biểu hiện của yếu tố thần kỳ nhƣng chƣa đặt nhân vật thần linh trong thể loại truyền thuyết để nhìn nhận truyền thuyết nhƣ một thể loại văn học dân gian độc lập. Tuy nhiên, trong cuốn Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam 1957 (Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiếu, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Trƣơng Chính, Lê Thƣớc soạn), ở chƣơng Chuyện đời xƣa, các tác giả cũng chỉ mới đề cập đến các truyền thuyết thần linh có nguồn gốc từ một đặc điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện núi Vọng Phu…). Bƣớc sang thập niên 60, nhiều công trình tổng hợp ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu về truyền thuyết ở nƣớc ta, trong đó phải kể đến: Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1: Văn học dân gian, NXB Giáo dục, H, 1961 của Bùi Văn 16 Nguyên và nhóm tác giả; Văn học dân gian Việt Nam của hai tác giả Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh, NXB Giáo dục, H, 1962.
Cùng trong giai đoạn này, Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy đƣợc đƣa lên diễn đàn tranh luận với nhiều bài nghiên cứu xoay quanh việc cải biên Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy. Nhiều vấn đề đƣợc đặt ra liên quan đến lý thuyết thể loại hay chủ đề truyện ca ngợi tình yêu thủy chung hay đề cao bài học cảnh giác…trở thành tƣ liệu cho việc nghiên cứu thần giai đoạn trung đại, tuy vậy luận án chỉ khai thác các yếu tố liên quan đến thần linh thể hiện trong tác phẩm. Từ xuất phát điểm đó, nhiều nhà nghiên cứu đã mở rộng phạm vi tranh luận đến nhiều vấn đề về lý thuyết thể loại: nhƣ mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và truyền thuyết đƣợc ghi chép, giá trị của các yếu tố sử trong truyền thuyết… Đó là các tác giả nhƣ: Đỗ Hữu Tấn với bài viết: “Nên khai thác và đánh giá truyện Mỵ Châu - Trọng Thủy nhƣ thế nào?”, Tạp chí nghiên cứu Văn hóa số 5, 1961; Trần Nghĩa với bài: “Truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy phát triển qua các thời đại”, Tạp chí nghiên cứu Văn hóa số 4, H, 1962; Trần Quốc Vƣợng với bài: “Bàn thêm về truyền thuyết Mỵ Châu- Trọng Thủy”, Tạp chí Văn học số 1, 1965… Việc nghiên cứu truyền thuyết về các nhân vật thần linh ngày càng đƣợc giới khoa học quan tâm và có những bƣớc tiến đáng kể. Việc khẳng định tính chất thể loại của truyền thuyết ngày một rõ hơn qua các nghiên cứu nhƣ: Năm 1967, có hai bài viết về truyền thuyết đăng trên Tạp chí Văn học, số 3: “Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử” của Phan Trần đã nêu ra những đặc điểm phân biệt giữa thần thoại và truyền thuyết; hay “Tƣ tƣởng chủ yếu của ngƣời Việt thời cổ qua những truyện đứng đầu trong thần thoại và truyền thuyết” của Tầm Vu (bút danh của Trần Văn Giàu), sau đƣợc in trong cuốn Truyền thống anh hùng thời kỳ phong kiến, năm 1971 đã phân biệt giữa thần thoại với truyền thuyết và tìm tƣ tƣởng yêu nƣớc trong các truyền thuyết dân gian, trong đó ông chọn ra nghiên cứu về các vị thần nhƣ: thần Kim Quy, Thánh Gióng, Thánh Tản Viên, Hai Bà Trƣng… Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử năm 1969, tác giả Đinh Gia Khánh có bài viết: “Xác định giá trị của truyền thuyết đối với việc tìm hiểu lịch sử thời đại Hùng 17 Vƣơng”.
Sau này bài viết ấy đƣợc tập hợp trong bộ kỷ yếu Hùng Vương dựng nước. Bộ kỷ yếu ra đời trong không khí tranh luận học thuật rất cao, quy tụ nhiều nhà nghiên cứu lớn nhƣ: Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Quốc Vƣợng, Nguyễn Khắc Xƣơng, Cao Huy Đỉnh… Về thành tựu dịch thuật các công trình có liên quan đến truyền thuyết thần linh thời trung đại, có thể nói thập niên 1960 - nửa đầu thập niên 1970 là giai đoạn nở hoa. Có thể kể ra đây các thành tựu chính: - Việt điện u linh, Lý Tế Xuyên, Trịnh Đình Rƣ dịch, NXB.Văn hóa, 1960; Đinh Gia Khánh hiệu đính, NXB.Văn học tái bản 1972 - Lĩnh Nam chích quái, Vũ Quỳnh-Kiều Phú, bản dịch NXB.Văn hóa, 1960 - Thánh Tông di thảo, bản dịch Nguyễn Bích Ngô, NXB.Văn hóa, 1963 - Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, NXB.Văn hóa, Hà Nội tái bản có chỉnh sửa bổ sung năm 1960 - Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, NXB.Văn hóa, Hà Nội, 1960 - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, Cao Huy Giu dịch và Giáo sƣ Đào Duy Anh hiệu đính, Nhà xuất bản Khoa Học xã hội đã xuất bản lần đầu đầy đủ nhất, 1967. - Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB.Văn Sử Địa và Sử học, HN từ 1957-1960 Ở miền Nam trƣớc 1975 các công trình trên cũng lần lƣợt đƣợc dịch và xuất bản: - Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Lê Hữu Mục dịch, Khai Trí xuất bản, 1961 - Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, Lê Hữu Mục dịch, Khai Trí xuất bản, 1960 - Tân biên Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Tự (Nguyễn Dữ), bản dịch Bùi Xuân Trang, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, 1960 18 - Công dư tiệp ký của Vũ Phƣơng Đề, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1961 - Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tạ Quang Phát dịch, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa xuất bản, 1970.
Trở lại việc nghiên cứu về truyền thuyết thần linh, năm 1971 công trình Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam của tác giả Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc Côn đƣợc xuất bản. Trong cuốn này, hai tác giả vẫn dùng thuật ngữ cổ tích lịch sử để chỉ một bộ phận truyện kể dân gian về các nhân vật anh hùng. Trong khi đó năm 1973 khi viết lời bàn cho cuốn sách Truyền thuyết Sơn Tinh, ông đã bắt đầu sử dụng khái niệm truyền thuyết để chỉ loại tác phẩm này: “Truyền thuyết là những truyện lịch sử và truyện lịch sử chỉ có thể có khi con ngƣời đã có ý thức về lịch sử của mình, về đất đai và xứ sở của mình” (Đinh Gia Khánh in trong Nguyễn Đổng Chi, 1974, tr. Nhận định này có ảnh hƣởng khá sâu sắc đến các nhà nghiên cứu truyền thuyết dân gian thế hệ sau.
Kiều Thu Hoạch dành nhiều thời gian để nghiên cứu về truyền thuyết, trong tiểu luận: “Truyền thuyết anh hùng trong thời phong kiến”, tác giả nhận định: Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trƣơng, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hƣ ảo, thần kỳ nhƣ cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thƣờng phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn, nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tƣởng tƣợng và bằng trí tƣởng tƣợng (Kiều Thu Hoạch, 1971, tr. Ông phân loại truyền thuyết thành hai loại lớn: truyền thuyết nhân vật và truyền thuyết phong vật. Trong truyền thuyết nhân vật, ông phân thành ba loại nhỏ: 19 truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện và truyền thuyết tôn giáo. Trong đó, ông nghiên cứu kĩ truyền thuyết về ngƣời anh hùng và đƣa ra nhận xét: Truyền thuyết về thần linh vốn đƣợc sáng tác và lƣu truyền ở cửa miệng của nhân dân nhƣng trong thời kỳ phong kiến, nó lại đƣợc các nhà nho ghi chép thành văn bản và đƣợc các vƣơng triều biên soạn thành thần tích.
Trong khi đó, tất nhiên, nó vẫn đƣợc nhân dân kể và lƣu truyền theo cách của mình (Kiều Thu Hoạch, 1971, tr. Nhƣ vậy, qua các nghiên cứu đã cho thấy truyền thuyết dù là truyện lịch sử hay là thể loại tự sự dân gian thì hầu hết đều liên quan đến các nhân vật thần, những nhân vật lịch sử và xoay quanh hệ thống các nhân vật này, lấy họ là trung tâm của mỗi câu chuyện. Từ năm 1973 việc nghiên cứu truyền thuyết nói chung và truyền thuyết về thần linh nói riêng đƣợc quan tâm nhiều hơn, xuất hiện nhiều những bài viết về truyền thuyết. Chẳng hạn nhƣ: “Chùm truyền thuyết săn bắn thời Hùng Vƣơng dựng nƣớc và đôi nét về mối quan hệ của nó đối với diễn xƣớng, tín ngƣỡng phong tục” (Tạp chí văn học 1973- số 6, 1976- số 2); hay bài của Phan Đăng Nhật: “So sánh, đối chiếu truyền thuyết của ngƣời Mƣờng với truyền thuyết của ngƣời Việt qua các truyện” (Tạp chí Văn học,1974, số 1); Bài tìm hiểu “Bà Triệu qua những tƣ liệu dân gian sƣu tầm đƣợc ở Thanh Hóa của Vũ Tố Hảo” (Tạp chí Văn học 1974, số 1).
Trong các công trình nghiên cứu về thần linh trong các truyền thuyết trung đại ở miền Bắc trƣớc 1975 thì phải kể đến hai công trình quan trọng có tính cách đánh dấu mốc đều của Cao Huy Đỉnh, đó là: - Người anh hùng làng Dóng2, NXB.Khoa học xã hội, 1969 - Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, NXB.Khoa học xã hội, 1974.