Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Văn học "Kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam" do nghiên cứu sinh Dương Tiểu Thi thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2008) thuộc chuyên ngành Văn học dân gian, tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính và văn học so sánh loại hình.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng truyện kể dân gian là bộ phận cấu thành nền văn hóa mỗi dân tộc; việc nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian giữa các quốc gia giúp nhận thức sâu sắc quy luật sản sinh, diễn biến và lưu truyền của tác phẩm trong bối cảnh văn hóa nhân loại. Tại Trung Quốc, nhiều học giả đã so sánh truyện dân gian Trung Quốc với truyện kể phương Tây hoặc các quốc gia láng giềng như Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan. Tuy nhiên, quan hệ so sánh truyện kể dân gian giữa hai nước láng giềng Trung Quốc – Việt Nam vẫn là một lĩnh vực chưa được khai phá thỏa đáng. Đồng thời, lâu nay giới nghiên cứu văn học dân gian phương Tây và Việt Nam tồn tại quan niệm cho rằng Trung Quốc có rất ít bản kể thuộc type truyện Cô Lọ Lem. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát, so sánh đối chiếu hệ thống bản kể hiện đại của type truyện Cô Lọ Lem tại miền Nam Trung Quốc và kiểu truyện Tấm Cám tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:
- Khảo sát kết cấu và nội dung các văn bản hiện đại của type truyện Cô Lọ Lem ở miền Nam Trung Quốc và kiểu truyện Tấm Cám ở Việt Nam.
- Phân tích, lý giải các điểm tương đồng và khác biệt giữa các bản kể của hai nước trên bình diện thi pháp cốt truyện, motif và văn hóa dân tộc.
- Làm rõ nội hàm văn hóa, diện mạo hiện đại cũng như nét đặc sắc của từng vùng văn hóa phản ánh qua các văn bản truyện kể.
- Thúc đẩy sự quan tâm học thuật đối với lĩnh vực nghiên cứu so sánh văn học dân gian Trung Quốc – Việt Nam.
Do nguồn tư liệu lịch sử lưu truyền từ xưa đến nay chưa đồng bộ, luận án không đặt mục tiêu giải quyết vấn đề nguồn gốc niên đại hay dựng lại tiến trình diễn biến lịch sử cổ xưa, mà tập trung vào diện mạo hiện đại của các văn bản.
Đối tượng nghiên cứu là type truyện Cô Lọ Lem ở miền Nam Trung Quốc và kiểu truyện Tấm Cám ở Việt Nam. Về phạm vi không gian và tư liệu, tác giả thống kê và khảo sát 47 bản kể hiện đại thuộc 15 dân tộc sinh sống tại các tỉnh miền Nam Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Quảng Đông) và 31 bản kể truyện Tấm Cám tại Việt Nam (chủ yếu dựa trên công trình của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Đinh Gia Khánh và Nguyễn Tấn Đắc).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu truyện kể dân gian và type truyện Cô Lọ Lem được tác giả tổng thuật chi tiết qua ba bình diện:
Tại Trung Quốc, lịch sử sưu tầm và nghiên cứu trải qua hai giai đoạn lớn. Trước năm 1949, phong trào "Ngũ Tứ" thúc đẩy việc thành lập Hội nghiên cứu ca dao Đại học Bắc Kinh (1920) và tuần san Dân tục Đại học Trung Sơn (1927). Thư cục Bắc Tân xuất bản "Tập hợp truyện dân gian" gần 40 quyển. Các học giả tiêu biểu giai đoạn này gồm: Mao Thuẫn với "Nghiên cứu thần thoại Trung Quốc" (1929, áp dụng phương pháp nhân loại học), "Tạp luận thần thoại" (1929); Chu Tác Nhân với "Đồng thoại lược luận", dịch thuật thần thoại Hy Lạp; Cổ Hiệt Cương với chuyên luận "Nghiên cứu truyện Nàng Mạnh Khương" (1927); Chung Kính Văn với "Sự giống nhau của truyện cổ tích Trung Quốc với Ấn Độ Châu Âu" (1928), "Kiểu truyện cổ tích Trung Quốc" (1931); Triệu Cảnh Thâm với "Đồng thoại học nhập môn" (1929), "Nghiên cứu truyện cổ tích" (1929). Giai đoạn 1937–1942 ghi nhận các khảo sát điền dã vùng tây nam của Nhuệ Đạt Phu, Lăng Thuần Thanh, Sở Đề Nam, Mã Học Lương, Văn Nhất Đa ("Khảo cứu Phục Hy" 1942). Sau năm 1949, xuất hiện các công trình của Đàm Đạt Tiên, Giả Chi, Chương Tử Thần, Viên Kha, Đinh Sơn. Từ thập niên 1980, các tổng tập quy mô lớn ra đời: "Tư liệu văn học dân gian Quý Châu" (97 tập), "Tổng tập truyện dân gian các dân tộc Trung Hoa" (16 tập, 1995), "Kho tàng truyện dân gian Trung Quốc chọn lọc" (10 tập, 1996 do Lưu Tích Thành, Mã Xương Nghi, Cao Tụ Thanh chủ biên), và "Tổng tập truyện dân gian Trung Quốc" (khởi động từ 1984). Các giáo trình đại cương của Chung Kính Văn (1980), Đoàn Bảo Lâm (1985), Lưu Thủ Hoa (1985) xác lập chuyên ngành folklore học. Về lịch sử cổ tích, nổi bật có "Lịch sử truyện cổ tích Trung Quốc" của Lưu Thủ Hoa (1999).
Tại Việt Nam, văn bản truyện kể sớm được ghi lại trong "Việt điện u linh", "Lĩnh Nam chích quái", "Truyền kỳ mạn lục". Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có các sưu tập của Trương Vĩnh Ký (1882, 1886), Huỳnh Tịnh Của (1880, 1885), Phan Kế Bính (1920), Nguyễn Văn Ngọc (1932). Từ sau năm 1954 và 1975, hoạt động nghiên cứu phát triển với công trình của Vũ Ngọc Phan ("Truyện cổ tích Việt Nam" 1955), Nguyễn Đổng Chi ("Lược khảo về thần thoại Việt Nam" 1956, "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam" 5 tập từ 1958 đến 1982), nhóm Lê Quý Đôn (1957). Các công trình phương pháp luận và lý luận của Cao Huy Đỉnh ("Người anh hùng làng Dóng" 1969, "Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam" 1974), Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên (1973), Đỗ Bình Trị (1978), Hoàng Tiến Tựu (1990), Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ (1990), Chu Xuân Diên ("Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học" 1989), Tăng Kim Ngân (1994), Nguyễn Bích Hà (1998), Nguyễn Thị Huế (1999) đã định hình hệ thống phân loại thể loại văn học dân gian.
Về type truyện Cô Lọ Lem trên thế giới và ở hai nước:
- Học giả phương Tây: M. Cox (1893) xuất bản công trình đầu tiên; A. Rooth (1951) khảo sát hơn 700 dị bản thế giới; R. D. Jameson nghiên cứu bản kể Trung Quốc; Stith Thompson thống kê hơn 500 dị bản tại châu Âu.
- Học giả Trung Quốc: Tiêu Sùng Tố (1987) so sánh truyện "Nàng A Tử" dân tộc Di với truyện Grimm; Chung Kính Văn (1991) so sánh bản kể Trung Quốc và Nhật Bản; Đinh Nãi Thông (1994) khảo sát 21 dị bản Trung Quốc và 9 dị bản Đông Nam Á, dự đoán truyện có thể xuất hiện sớm ở nam Quảng Tây và bắc Việt Nam; Lưu Hiểu Xuân (1995) phân loại 4 vùng văn hóa (Tây Tạng, Miền Nam, Miền Bắc/Đông Bắc, Tây Bắc) với 72 dị bản của 21 dân tộc, chỉ ra 3 motif hạt nhân (trợ giúp thần kỳ, kỳ duyên lễ hội, thử giày kết hôn); Trần Ngọc Bình (1998) giải mã nội hàm lễ thành niên; Nông Học Quán (1998, 2005) khảo cứu truyện "Nàng Diệp Hạn" thời Đường và quan hệ với văn hóa Lạc Việt.
- Học giả Việt Nam: Đinh Gia Khánh (1968) với "Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám" xác định hai chủ đề chính: "dì ghẻ con chồng" và "vật báu đem lại hạnh phúc", chỉ ra tính quốc tế của chiếc giày và tính dân tộc của miếng trầu; Nguyễn Tấn Đắc ("Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif", 2005, 2006) thống kê 38 bản kể ở Việt Nam, phân tích xung đột chị em, sự đánh tráo thân phận và công cụ kiểm nghiệm; Chu Xuân Diên phân tích motif trừng phạt, gội nước sôi và mụ phù thủy ăn thịt người từ nguồn gốc nghi lễ trưởng thành; Vũ Anh Tuấn (1981) khảo sát bản "Tua cốc tua nhì" của người Tày; Kiều Thu Hoạch (1996) phân tích truyện "Chị Tấm và em Cám" của người Kinh ở Vạn Vĩ (Trung Quốc).
Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên so sánh trực tiếp, toàn diện hệ thống bản kể Cô Lọ Lem tại miền Nam Trung Quốc với kiểu truyện Tấm Cám ở Việt Nam, khắc phục quan niệm sai lệch về sự nghèo nàn của bản kể Lọ Lem tại Trung Quốc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng bốn hệ thống lý thuyết văn học dân gian:
- Lý thuyết type và motif theo trường phái Phần Lan: Khái niệm "type" được Antti Aarne đề xuất (1910) và hoàn thiện cùng Stith Thompson (1961) trong bảng phân loại AT (The Types of the Folktale). Thompson định nghĩa: "Motif là thành phần nhỏ nhất có thể tồn tại liên tiếp trong truyền thống", còn "Type là một loạt motif kết hợp theo thứ tự tương đối cố định". Luận án tham chiếu các bảng tra cứu: W. Eberhard (1937, "Kiểu truyện dân gian Trung Quốc"), Đinh Nãi Thông (1978, 843 type truyện Trung Quốc dựa trên AT), Kim Vinh Hoa (2000, 263 type truyện) và công trình của Lưu Thủ Hoa (2003). Tác giả tiếp thu quan điểm của Lưu Thủ Hoa: lấy sự tương đồng của motif hạt nhân hoặc tình tiết cơ bản để phân loại type truyện, không phụ thuộc vào chủ đề trừu tượng.
- Lý thuyết hình thái học truyện cổ tích và tự sự học: Luận án ứng dụng mô hình của Vladimir Propp trong "Hình thái học truyện cổ tích" (1928), kết hợp các tiếp cận tự sự học của Trương Khai Diệm (1994) và Lý Dương (nghiên cứu chức năng, thứ tự, vai trò) để phân tích kết cấu cốt truyện và hành động chức năng của nhân vật.
- Nhân học văn hóa: Tiếp cận quan điểm của Edward Tylor và trường phái tiến hóa luận để truy nguyên ý nghĩa các cổ mẫu, tàn dư nghi lễ trưởng thành (lễ thành niên), phong tục hôn nhân cổ và tín ngưỡng tô-tem giáo (vật tổ cá, trâu, chim, cây).
- Lý thuyết phê bình nguyên hình (Archetypal criticism): Tiếp thu luận điểm của Northrop Frye về "nguyên hình" như các cụm liên tưởng (associative clusters) và biểu tượng lặp lại trong văn học truyền miệng.
Phương pháp nghiên cứu gồm: phương pháp so sánh (chủ đạo), phương pháp loại hình lịch sử, phương pháp tự sự học, phương pháp phân tích tâm lý, phương pháp thống kê tư liệu và tiếp cận liên ngành văn hóa - dân tộc học.
Về nguồn tư liệu, tác giả xử lý 47 văn bản tại miền Nam Trung Quốc và 31 văn bản tại Việt Nam. Bảng phân bố 47 bản kể miền Nam Trung Quốc theo dân tộc:
| STT |
Dân tộc |
Số lượng bản kể |
Địa bàn lưu truyền chính |
| 1 |
Choang |
17 |
Quảng Tây (Phù Tuy, Điền Dương, Thượng Tư, Long An, Bách Sắc...) |
| 2 |
Mông |
8 |
Vân Nam (Văn Sơn), Quý Châu (Huệ Thủy, Uy Ninh), Hồ Nam (Hoa Viên) |
| 3 |
Di |
5 |
Tứ Xuyên (Lương Sơn), Quý Châu (Uy Ninh, Ban Châu), Quảng Tây (Tây Lâm) |
| 4 |
Hán |
5 |
Quảng Tây (Bắc Lưu, Ngọc Lâm, Đằng huyện), Quảng Đông (Quảng Châu) |
| 5 |
Dao |
2 |
Quảng Tây (Phú Xuyên) |
| 6 |
Bố Y |
1 |
Quý Châu (Vọng Mô) |
| 7 |
Động |
1 |
Quý Châu (Lê Bình) |
| 8 |
Kinh |
1 |
Quảng Tây (Phòng Thành) |
| 9 |
Mu-lao |
1 |
Quảng Tây (Long Lâm) |
| 10 |
Bạch |
1 |
Vân Nam (Nhĩ Nguyên, Kiếm Xuyên) |
| 11 |
Pu-mi |
1 |
Vân Nam (Lan Bình) |
| 12 |
Va |
1 |
Vân Nam (Thương Nguyên) |
| 13 |
Thái |
1 |
Vân Nam |
| 14 |
Nộ |
1 |
Vân Nam (Phúc Cống) |
| 15 |
Đơ-ăng |
1 |
Vân Nam (Lộ Tây) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Phác họa diện mạo type truyện Cô Lọ Lem ở miền Nam Trung Quốc và ở Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về type và motif, đồng thời tiến hành miêu tả diện mạo kết cấu của 47 bản kể miền Nam Trung Quốc và 31 bản kể Tấm Cám Việt Nam.
Khảo sát 47 bản kể miền Nam Trung Quốc cho thấy quy cách đặt tên truyện: 15 bản kể ghép tên hai chị em (chị trước em sau, nhân vật chính là chị, ngoại trừ truyện "Muội Sẹo và Muội Xinh" của người Hán); 13 bản kể lấy tên nhân vật chính diện ("Nàng A Tử", "Thu Liên"); các bản kể khác lấy tên vật hóa thân của mẹ ("Trâu cái xanh", "Cây đàn hương", "Cây hoa thần kỳ"), tên hai vợ chồng ("Âu Lạc và Triệu Nạp"), hoặc motif trung tâm ("Chiếc giày thêu hoa").
Quan hệ nhân vật trong phần mở đầu rất đa dạng: dì ghẻ – con chồng (chiếm đa số), cô – cháu, dì – cháu, chủ – tớ ("A Hoa và A Tra"), mẹ nuôi – con nuôi ("Vưu Ái Hoa"), hoặc chị em ruột mồ côi. Người cha thường thụ động hoặc sớm qua đời. Luận án thống kê có 38% số bản kể xuất hiện motif người mẹ đẻ hóa thân (nguyên nhân do bị chồng đánh đuổi, tự nguyện hóa trâu cứu con mùa hạn hán, bị phù phép hoặc do ăn cỏ).
Về sự trợ giúp thần kỳ, con trâu là nhân vật trợ thủ nổi bật nhất: có tới 34 trên 47 bản kể xuất hiện người trợ giúp là trâu (chiếm tỷ lệ 72%). Trong đó, trâu là hóa thân của người mẹ đẻ, thực hiện chức năng giúp cô gái chăn nuôi, ăn dây nhả sợi, ăn sợi nhả vải dệt, thêu thùa và an ủi nhân vật mồ côi.
Đối với các bản kể Tấm Cám tại Việt Nam, kết cấu phổ biến đi từ cảnh ngộ mồ côi bị áp bức, sự giúp đỡ của Bụt/cá bống, tham dự hội và thử giày kết hôn với vua, tiếp nối bằng chuỗi biến hình tái sinh sau khi bị mụ dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ hãm hại, kết thúc bằng sự trừng phạt mẹ con Cám và đoàn tụ.
Chương 2. Những motif chính tương đồng trong type truyện Cô Lọ Lem ở miền Nam Trung Quốc và ở Việt Nam
Chương 2 phân tích các motif hạt nhân tạo nên sự tương đồng loại hình giữa hai khu vực:
- Sự bạc đãi và trợ giúp: Motif "đứa trẻ mồ côi bị đối xử bất công" bắt nguồn từ sự phân rã gia đình thị tộc sang gia đình phụ hệ, làm nảy sinh quan hệ dì ghẻ – con chồng gay gắt. Đứa trẻ phải lao động cực nhọc, ăn đói mặc rách nhưng luôn nhận được sự can thiệp từ "Người trợ giúp thần kỳ" (mang tàn tích tô-tem giáo che chở cho người yếu thế).
- Thay đổi thân phận bằng cuộc hôn nhân: Cốt truyện chuyển bước ngoặt qua motif "cô gái nghèo lấy chồng hoàng tử/vua". Công cụ kết nối là motif "chiếc giày xe duyên". Đôi giày đóng vai trò vật kiểm nghiệm thân phận, biểu tượng cho nhân duyên nam nữ; quy luật nội tại của cốt truyện đòi hỏi đôi giày chỉ duy nhất người có phẩm chất chân chính mới xỏ vừa.
- Bị giết hại và liên tục biến hình: Sau hôn nhân, nhân vật chính bị giết hại nhưng không biến mất mà trải qua motif "liên tục biến hình". Sự biến hóa gắn liền với văn hóa chim (chim vàng anh, chim sẻ) và văn hóa cây (cây xoan đào, cây trúc, cây thị, cây hoa). Luận án phân định hai dạng kết cấu của type truyện Cô Lọ Lem: dạng ngắn (kết thúc ở hôn nhân, phổ biến trong truyện Grimm phương Tây) và dạng dài kéo dài qua chuỗi chết đi sống lại rồi tái sinh thành người (phổ biến ở Đông Á và Đông Nam Á).
- Đoàn tụ và trừng phạt: Đoạn kết tuân thủ motif "người tốt được ban thưởng, người xấu bị trừng phạt". Sự phục hồi vị trí của nhân vật chính diện và sự trừng phạt nghiêm khắc dành cho mẹ con kẻ ác phản ánh ước mơ công lý và tính tất yếu của tư duy cổ tích.
Chương 3. Sự khác biệt trong type truyện Cô Lọ Lem ở miền Nam Trung Quốc và ở Việt Nam
Chương 3 chỉ ra các nhân tố tạo nên dị biệt giữa văn bản hai nước qua năm bình diện:
- Tôn giáo tín ngưỡng: Người trợ giúp thần kỳ ở miền Nam Trung Quốc chủ yếu là con trâu (vật nuôi gắn bó sản xuất và nghi lễ tế tự nông nghiệp), đồng thời bảo lưu đậm nét yếu tố vu thuật (mẹ bị phù phép biến hình, chôn xương trâu sinh của cải). Ngược lại, bản kể người Việt mang dấu ấn Phật giáo dân gian qua hình tượng Bụt, Tiên hoặc cá bống. Bản kể của người Pu Péo bảo lưu mô hình vũ trụ "ba thế giới"; các bản kể dân tộc thiểu số miền Nam Trung Quốc còn xuất hiện biểu tượng sinh nở từ hoa, tre, trứng.
- Phong tục tập quán: Phản ánh các nghi lễ và tập tục hôn nhân cổ truyền. Miền Nam Trung Quốc xuất hiện chi tiết thử thách qua "bộ tóc dài", tục cưới chị em (chị chết em thế chỗ), tục cướp vợ của các tộc người miền núi, cảnh kết duyên khi đi xem hát hy khúc, hay chi tiết dùng "Thần phán" để phân biệt vợ thật vợ giả. Trong khi đó, bản kể Việt Nam mang nét đặc thù văn hóa qua chi tiết têm trầu cánh phượng nhận diện vợ chồng, phản ánh tập quán ăn trầu truyền thống của người Việt.
- Ảnh hưởng của văn học viết: Một số bản kể có sự tham gia của tầng lớp trí thức phong kiến, xây dựng hình tượng người con gái bạo dạn hoặc phản ánh sự khúc xạ của văn bản thần tích (tiêu biểu là Thần tích Đền thờ Hoàng thái hậu Ỷ Lan lịch sử hóa cốt tích Tấm Cám tại vùng Kinh Bắc).
- Đời sống xã hội đương thời: Các bản kể miền Nam Trung Quốc khúc xạ tâm lý xã hội "chuộng nho sĩ", người chồng lý tưởng thường là tú tài, quan trạng, sĩ tử đi thi, thể hiện sự chi phối của chế độ khoa cử; trong khi bản kể Tấm Cám Việt Nam gắn chặt với thiết chế cung đình phong kiến (vua, hoàng tử) kết hợp tính chất hội làng thôn dã.
- Lịch sử xã hội cổ xưa: Cách thức trừng phạt kẻ ác (giội nước sôi, làm mắm gửi cho dì ghẻ) được giải mã là dấu vết tàn tích của nghi lễ trưởng thành cổ xưa và tàn dư của thời kỳ dã man đối với phù thủy, chứ không đơn thuần là sự tàn nhẫn cá nhân. Chi tiết "báu vật" trong truyện Nàng Diệp Hạn đời Đường cũng được phân tích như một yếu tố táng tục và quan niệm cổ sơ về vật thiêng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Đóng góp về nguồn tư liệu: Giới thiệu cho giới nghiên cứu Việt Nam 47 bản kể Cô Lọ Lem của 15 dân tộc thiểu số và dân tộc Hán ở miền Nam Trung Quốc. Trong đó, nhiều văn bản là tư liệu điền dã chưa từng xuất bản chính thức, chỉ lưu trữ dưới dạng bản đánh máy tại các nhà văn hóa cấp huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Quý Châu. Đồng thời, phần phụ lục dịch thuật giới thiệu trọn vẹn 11 bản kể tiêu biểu của 11 dân tộc miền Nam Trung Quốc và cung cấp bản sao chụp văn bản chữ Hán cổ "Nàng Diệp Hạn" trích từ "Dậu Dương tạp trở".
- Đóng góp về lý luận và thực tiễn: Bác bỏ quan điểm học thuật tồn tại lâu nay cho rằng Trung Quốc nghèo nàn bản kể Cô Lọ Lem; phác họa diện mạo chân thực của type truyện Cô Lọ Lem dạng mở rộng (có phần biến hình tái sinh) ở miền Nam Trung Quốc và đối chiếu với Tấm Cám Việt Nam. Khám phá quy luật phát triển loại hình cốt truyện, làm rõ sự tương đồng cấu trúc motif và lý giải căn nguyên của sự khác biệt thông qua các tầng trầm tích văn hóa, phong tục hôn nhân, tín ngưỡng tô-tem và bối cảnh lịch sử xã hội của từng cộng đồng tộc người.
Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất giới nghiên cứu văn học dân gian hai nước cần tăng cường phối hợp, mở rộng các đề tài so sánh truyện kể dân gian Trung – Việt tương xứng với bề dày quan hệ láng giềng và các mối liên hệ văn hóa khu vực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, tác giả tự nhận định nguồn tư liệu xử lý trong luận án chủ yếu là các văn bản hiện đại sưu tầm ở thế kỷ XX, tư liệu về tiến trình lưu truyền lịch sử qua các thời kỳ cổ trung đại của từng dị bản còn khiếm khuyết. Do đó, luận án chưa thể xác định dứt khoát niên đại ra đời nguyên thủy cũng như bản đồ dịch chuyển lịch sử của từng motif giữa các tộc người.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả đề xuất:
- Tiếp tục mở rộng phạm vi so sánh type truyện này ra toàn thể khu vực Đông Nam Á (cả lục địa và hải đảo) để kiểm chứng giả thuyết về vùng phát sinh type truyện.
- Kết hợp nghiên cứu văn bản học dân gian với các chuyến điều tra điền dã dân tộc học chuyên sâu tại các vùng giáp biên giới Việt – Trung.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Văn học dân gian, Văn học so sánh, Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học văn hóa.
- Giảng viên giảng dạy các học phần Văn học dân gian Việt Nam, Văn học Trung Quốc và Văn hóa Đông Nam Á.
- Các nhà nghiên cứu quan hệ văn hóa, văn học khu vực biên giới Việt – Trung.
Các nội dung có giá trị tham khảo học thuật cao gồm: bảng thống kê phân loại 47 bản kể miền Nam Trung Quốc; các chương phân tích motif trợ giúp của con trâu, biến hình chim – cây; khảo cứu sự tương đồng và khác biệt về phong tục cưới hỏi, vu thuật; và 11 bản dịch truyện dân gian các dân tộc ở phần phụ lục.
Câu hỏi thường gặp
1. Số lượng dị bản được tác giả khảo sát trực tiếp trong luận án là bao nhiêu?
Luận án khảo sát trực tiếp 47 bản kể hiện đại thuộc 15 dân tộc tại các tỉnh miền Nam Trung Quốc và 31 bản kể truyện Tấm Cám tại Việt Nam.
2. Hình tượng người trợ giúp thần kỳ là con trâu chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong các bản kể miền Nam Trung Quốc?
Trong 47 bản kể miền Nam Trung Quốc, có 34 bản kể xuất hiện người trợ giúp thần kỳ là con trâu, chiếm tỷ lệ 72%. Trâu chủ yếu là hóa thân của người mẹ đẻ đã khuất để bảo vệ và giúp đỡ con gái kéo sợi, dệt vải.
3. Tỷ lệ xuất hiện motif người mẹ đẻ hóa thân ở phần đầu các câu chuyện miền Nam Trung Quốc là bao nhiêu?
Motif người mẹ đẻ hóa thân xuất hiện trong 38% tổng số các bản kể miền Nam Trung Quốc được khảo sát, trong đó hình thức hóa trâu là phổ biến nhất.
4. Chi tiết nào thể hiện tính đặc thù văn hóa dân tộc của bản kể Tấm Cám người Việt so với bản kể miền Nam Trung Quốc?
Chi tiết miếng trầu têm cánh phượng nhận diện vợ chồng để nối lại nhân duyên là chi tiết đặc thù riêng có của bản kể Tấm Cám người Việt, phản ánh phong tục ăn trầu truyền thống, khác với chi tiết chiếc giày giao duyên mang tính chất quốc tế.
5. Vì sao luận án không xác định nguồn gốc phát sinh và niên đại lịch sử của type truyện Cô Lọ Lem?
Do nguồn tư liệu hiện có chủ yếu là các bản ghi chép hiện đại thế kỷ XX, tư liệu lịch sử về quá trình diễn biến truyền miệng qua các thời kỳ cổ trung đại của từng dân tộc không đầy đủ, nên luận án chỉ giới hạn nhiệm vụ khảo sát kết cấu và nội dung trên bình diện diện mạo hiện đại.
Kết luận
Luận án của Dương Tiểu Thi là công trình nghiên cứu định tính quy mô về văn học so sánh, làm sáng tỏ diện mạo 47 bản kể type truyện Cô Lọ Lem ở miền Nam Trung Quốc và 31 bản kể kiểu truyện Tấm Cám ở Việt Nam. Công trình khẳng định sự phong phú của type truyện này tại Trung Quốc, xác lập hệ thống motif cốt lõi tương đồng phản ánh tư duy cổ tích nhân loại, đồng thời lý giải sâu sắc các dị biệt văn hóa bắt nguồn từ tín ngưỡng vu thuật, đạo giáo, phong tục hôn nhân và dấu vết nghi lễ cổ sơ. Luận án đóng góp nguồn tư liệu văn bản quý giá cho chuyên ngành folklore học và mở ra triển vọng cho các nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian giữa hai quốc gia.