chương 1 .--cc 2272111122211 1125511111155 xky 75 CHƯƠNG 2. NHỮNG MOTIF CHÍNH TƯƠNG ĐÔNG TRONG TYPE TRUYỆN CÔ LO LEM O MIEN NAM TRUNG QUOC VA 9A)5/)80)/. Sự bạc đãi và trợ gitip .1 Motif “đứa trẻ mô côi bị đối xử bất công”. Xung đột giữa dì ghẻ con chong.
Lý giải dân tộc học về motif “đứa trẻ mô côi bị đối xử bất công”. Motif “Người trợ giúp than kỳ”. Thay đối thân phận bằng cuộc hôn nhan”. Motif “cô gái nghèo lay chồng hoàng tử”.
Motif “chiếc giày xe duyÊn”.Giày và nhân duyên nam nữ. Đôi giày chỉ duy nhất một người di vừa. Quy luật phát triển trong nội bộ câu chuyện. Bị giết hại và liên tục biến hình _.
Motif “liên tục biến hình”. Sự biến hình và văn hod chim. Sự biến hình và văn hod cây. Hai dạng của type truyện Cô Lo Lem.
Doan tu và trừng phat. Motif “người tốt được ban thưởng, người xấu bị trừng phat”. Kết thúc có hậu. c1 n SH SH ST nh sen 123 Tiểu kết chương 2.
--cc 2211112221111 1151 5511111 x2 ng 124 CHƯƠNG 3. SỰ KHÁC BIỆT TRONG TYPE TRUYỆN CÔ LỌ LEM Ở MIEN NAM TRUNG QUOC VÀ Ở VIỆT NAM. Những khác biệt do ảnh hưởng của tôn giáo tín ngưỡng. Khác biệt về thân phận của người trợ giúp thần kỳ.
Hì nh tượng “trâu” trong bản kế các dân tộc miền Nam Trung Qué131 3. Yếu tố vu thuật được thé hiện trong bản kế miền Nam Trung Quốc. Biéu tượng “hoa”, “tre”, “trứng” được thê hiện trong các bản kể. Chi tiết truyện “ba thế giới” trong bản kề người Pu Péo.
Những khác biệt do ảnh hưởng của phong tục tập quán. Chi tiết “bộ tóc dai” trong một số bản kỂ. Phong tục cưới đa dạng được thể hiện trong bản kê truyện. Tục cưới Chi em.
TỤC CƯỚP VỢ. SH nh SH HH nh ni nà kh kết 149 3. Tình tiết “kết duyên trong lễ lội” của một số bản kể. Tinh tiết “kết duyên khi đi xem hy khúc” trong một số bản kể truyện của miền Nam Trung QUOC.
Tì nh tiết “phân biệt vợ giả vợ thật qua Thần phán” trong một số bản ké truyện của miền Nam Trung Quốc. Yếu tố “trầu” trong các bản kế Việt Nam. Những khác biệt do ảnh hưởng của văn học viết. Hình tượng người con gói bạo dạn và người trợ giúp thần kỳ trong một số bản kỀ.
Văn ban than tích Y Lan - hiện tượng lịch sử hoá cô tích Tam Cám của người VIỆT. Những khác biệt do ảnh hưởng của đời sống xã hội đương thời.Su phản ánh tình cảm “chuộng nho si” trong một số bản kể của miền Nam Trung Quốc. Sự phản ánh các mối quan hệ xã hội trong bản kê. Những khác biệt do ảnh hưởng của lịch sử xã hội cỗ xưa.
Cái chết của mẹ con dì ghẻ. “Báu vật” - một chỉ tiết độc đáo trong truyện Nang Diệp Han. 178 Tiểu kết chương 3. + L ¿c2 2211122222111 12 5111111 558222 xe 183 KET LUẬN.
c2 1020002000201 1111111 n 2kg TT kh re. 185 TÀI LIEU THAM KHẢO.- 22-22222222 ssssse 190 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIÁ ĐÃ CÔNG BÓ LIÊN QUAN DEN LUẬN ÁN. C11112 2222111111111 nnnHko 204 PHU LUC .-- cess ee 22222 221111111111 1151555111111 xy 205 1. Truyện Đạt GIó_.
Muội sẹo và muội xinh (dân tộc Hán). AY Sở và A Yi Cầu (dân tộc Di). Ba chị em (dân tộc Mông). Nàng kéo vàng (dân tộc Bạch).
Hai chị em (dân tộc Va). Chị Tam và em Cám (dân tộc Kinh). Cây hoa thần ky (dân tộc Đơ-ăng). 284 Ban photo truyện Vẻng Diệp Hạn (nguyên văn tiếng Trung Quốc).
Lý do chọn đề tài Truyện ké dân gian là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hoá của mỗi dân tộc, so sánh truyện ké dân gian của các dân tộc khác nhau sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về đặc điểm và giá trị của truyện dân gian cũng như quy luật sản sinh, diễn biến, lưu truyền của nó trong bối cảnh văn hoá dân tộc nói riêng và văn hoá nhân loại nói chung. Ở Trung Quốc đã có không ít học giả bắt tay vào công việc nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian Trung Quốc với truyện kế của các nước phương Tây và các nước láng giềng như: An Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan v. Nhưng cho đến nay, lĩnh vực nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian giữa hai nước Trung Quốc - Việt Nam vẫn là một vùng đất bị bỏ hoang. Trong khi đó Trung Quốc, Việt Nam là hai nước láng giềng sông liền sông núi liền núi, có nhiều nét tương đồng về văn hoá và cội nguồn dân tộc, nếu đem so sánh truyện dân gian của hai nước, chắc chắn chúng ta sẽ có thể khám phá ra nhiều điều lý thú.
Trong kho tang truyện ké dân gian, type truyện Cô Lo Lem là một type truyện được pho bién rộng rãi ở hai nước Trung Quốc, Việt Nam nói riêng, và cả thế giới nói chung. Nhà folklore đương đại người Mỹ Sthith Thomspon trong cuốn sách The Folklore (bản dịch tiếng Trung Quốc là: Phân loại học truyện dân gian thé giới) đã chi ra rằng: “Có lẽ trong kho tàng truyện dân gian của nhân loại, nổi tiếng nhất là type truyện Cô Lọ Lem”[132, tr. Theo Sthith Thomspon, type truyện Cô Lọ Lem chỉ riêng ở Châu Âu đã tìm thấy hon 500 di bản, và cũng có tìm thấy ở những nước châu A như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, thậm chí ở những nước Châu Phi và Châu Mỹ. Ở Trung Quốc, ngoài Nàng Diệp Hạn trong cuốn “Dáu Dương tap trở” của ông Doan Thành Thức doi Đường được công nhận là văn bản ghi chép sớm nhất về type truyện Cô Lọ Lem, theo học giả Trung Quốc Lưu Hiểu Xuân: “Hiện chúng tôi đã nam được 72 di bản của 21 dân tộc Trung Hoa”[118, tr.
Ở Việt Nam, type truyện Tam Cám cũng đã được tìm thay ở nhiều dân tộc và là một trong những truyện cô phố biến nhất và được ưa thích nhất, theo học giả Việt Nam Nguyễn Tan Đắc thống kế, hiện đã sưu tam được 38 di bản truyện Tam Cam ở Việt Nam. Truyện Tam Cam Việt Nam năm trong type truyện Cô Lọ Lem (Cô Tro Bếp), Chu Xuân Diên trong bài Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện Tam Cám cho rằng: “Truyện Tam Cám nam trong mot kiéu truyện thuộc loại phổ biến nhất thế giới. Cô Tam trong truyện của nhiều nước phương Tây có tên là Cô Tro Bếp, vì vậy kiểu truyện này có tôn là kiểu truyện Cô Tro Bếp ”[10, tr. Tác phẩm văn học dân gian là những tác phẩm truyền miệng, chỉ có những tác phẩm có hình thức đẹp, phản ánh tâm lý và nội hàm văn hoá chung của loài người mới có thé phổ biến rộng rãi, được nhân dân truyền tụng.
Type truyện Cô Lọ Lem là type truyện được phổ biến rộng rãi, số lượng dị bản nhiều, nội dung phong phú, kết cấu chặt chẽ và là type truyện rất đỗi quen thuộc của nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam. Trên đây là những lý do khiến chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu này.2 Lịch sử van dé 0.1 Tình hình nghiên cứu truyện kể dân gian ở Trung Quốc Truyện kể dân gian Trung Quốc có bề dày lịch sử lâu dài, khoảng 2.500 năm trước vào thời Chiến Quốc, những ghi chép về “chuyện đầu đường xó chợ” có thé coi là văn bản ghi chép truyện kề sớm nhất. Trong những sách cô như Sơn hải kinh Wij, Liệt dị truyện HALE, Sưu than ký ###1J , Quảng dị ký #11, Dậu Dương tạp trở /#H4*ãll, Di kiên chí 8#, Nhĩ đàm F- 1# của các triều đại đã ghi chép vô số truyện dân gian. Nhưng phải đến những năm đầu của thế kỷ 20, chúng mới được ghi chép và nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học nhân văn.
Thời kỳ trước năm 1949 Dưới sự ảnh hưởng của phong trao “Ngũ Tứ”, năm 1920 Hội nghiên cứu ca dao của Trường Đại học Bắc Kinh thành lập, năm 1922 Trường bắt đầu phát hành tuần san Ca đao Z{Z#, năm 1927 Trường Đại học Trung Son phát hành tuần san Dân tuc /#/, những sự kiện đó đã đánh dấu bước khởi đầu và phát triển của sự nghiệp nghiên cứu văn học dân gian Trung Quốc. Vào những năm 30, công việc sưu tâm và xuât bản truyện dân gian đi vào đỉnh cao, trong đó Tập hợp truyện dân gian ŠÌR|#5S##š do Thư cục Bắc Tân xuất bản là đáng chú ý hơn cả. Bộ sách được chia làm ba nhóm: /ruyện cười dân gian RIF, dong thoại dân gian Fe /i] #1A(c6 tích than kỳ), truyền thuyết Fe/i] #£i, có gần 40 quyền, mỗi quyền có 20- 40 truyện. Với tổng số hơn nghìn truyện, có thể coi là một bộ tổng tập truyện dân gian đồ sộ của thời kỳ cận đại của Trung Quốc.
Vào giai đoạn này, trong lĩnh vực nghiên cứu truyện ké có năm tên tuổi đáng chú ý nhất, đó là các nhà nghiên cứu Mao Thuan 3# Jj, Chu Tác Nhân JAEA, Triệu Cảnh Thâm #4#‡Ÿ#, Chung Kính Văn #†'##/'*-, Có Hiệt Cương ea. Mao Thuan đã có công lớn trong việc dịch và giới thiệu tác phẩm hoc thuật của phương Tây và ông đã vận dụng những lý luận của Phương Tây vào công việc nghiên cứu. Chuyên luận của ông về thể loại thần thoại có: Nghién cứu thân thoại Trung Quốc ABC f†Bl*ff7š ABC(1929), Tạp luận than thoại ##iF# 1 (1929), Than thoại Bắc Âu ABC -#F#4##zABC(1930). Trong đó, Nghiên cứu than thoại Trung Quốc ABC được đánh giá cao nhất, đây là chuyên luận đầu tiên nghiên cứu thần thoại bằng phương pháp khoa học phương Tây (phương pháp Nhân loại học Ñ3§3“77}*š) ở Trung Quốc.
Bộ sách gồm hai tập, tám chương, đã tập trung tìm hiểu về những vấn đề như “bảo lưu và sửa chữa”, “tiến hoá và lý giải”, “quan niệm về vũ trụ”, “bộ tộc người không lồ và thế giới u minh”, “thần thoại trong giới tự nhiên”, v. Sự đóng góp của ông cho lĩnh vực nghiên cứu thần thoại không ai có thể sánh được, ông được giới folklore đương đại tôn là người đặt nền móng cho thần thoại học Trung Quốc. Chu Tác Nhân JAl/E A đã có những bài viết như Đồng thoại lược luận iFM, Than thoại và truyền thuyết His fe Ud, Tập tục và thân thoại 7 /⁄4/!2#77., ông đã dịch và giới thiệu Thần thoại Hy Lạp 7/##?#T, Than linh và anh hùng của Hy Lạp 5/7? 4#, ông có công trong việc giới thiệu phương pháp nghiên cứu của trường phái nhân loại học, thay đôi sự miệt thị và thành kiến của dân chúng lúc đó đối với truyện dân gian nói riêng và văn học dân gian Trung Quốc nói chung. Cổ Hiệt Cuong JM) có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu truyện kể, thành tựu lớn nhất mà ông đạt được là nghiên cứu về truyền thuyết Nàng Mạnh Khương.