mở đầu dùng thuật ngữ dé sw với ý nghĩa là một thuật ngữ khoa học chỉ một loại hình nhân cách trong lịch sử tư tưởng, lịch sử văn hoá khu vực. Vi là người có ý thức quan tâm sớm nhất về vấn đề này, nên ông cũng là người tiên phong chỉ ra ở những nét phác thảo nhất đặc điểm của mẫu hình nhân cách văn hóa này. 13 Trước tiên, theo ông, người anh hing dé sư là một “tiêu loại” trong tip lớn hơn là người anh hùng thời loạn. Người anh hùng thời loạn gồm: anh hùng tạo thời thé (anh hùng sáng nghiệp) và dé sư.
“Vé phần mình, chúng tôi muốn nói thêm rang người hào kiệt như ở Phan Bội Châu là sự tiếp biến của mẫu người anh hùng thời loạn trong bối cảnh lịch sử thay đổi. Trước kia, đã từng tồn tại hai “tiêu loại” người anh hùng thời loạn; đó là người anh hùng tạo thời thế (anh hùng sáng nghiệp) và “đế su” [211, tr. Đồng thời ông cũng chỉ ra những điều kiện lịch sử xuất hiện người anh hùng thời loạn. “Cả hai tiểu loại anh hùng thời loạn này đều thường xuất hiện và phát triển trong bối cảnh xã hội rối loạn, triều đại chính thống đã rệu rã, sụp đô hay bị đánh đồ, mà triều đình chính thống mới lại chưa ra đời hoặc còn tồn tại lay at.
Chính vì thiếu văng cái chính thống, mà trật tự kỷ cương trở nên không rõ ràng. Vang thiếu cái chính thống, người ta mới đua nhau ty khang định, tự trở thành. Dich cuối cùng của người anh hùng thời loạn là xác lập nên cái chính thống mới và cùng với điều đó, họ trở thành những người tạo thời thế, lưu danh sử sách như là những người tác động biến đổi lich sử. Đi sâu hơn vào tiểu loại anh hùng dé sư, ông tiếp tục chỉ ra những điều kiện xuất hiện những lựa chọn của mẫu người này trong thời loạn — “Đội ngũ trí thức — nhà nho trước một thực tế đất nước “ba bè bay bối” đến dường kia, trước ngã năm ngã bảy của cuộc đời, tự nhiên rơi vao tình huống buộc phải lựa chọn.
Tùy theo hoàn cảnh cụ thể riêng của mỗi người mà sự lựa chọn ấy dẫn đến những số phận khác nhau, định hướng cuộc đời khác nhau, và cuối cùng, là những kết quả khác nhau. Tuy nhiên, có những nét chung làm nền cho sự lựa chọn ấy. Số đông làm theo sự an bài đang tiếp diễn của số phận, không mấy băn khoăn về sự khác biệt giữa vua và chúa, vẫn hăm hở học hành, quyết khoa, xuất chính, phụng sự cho thế lực chính trị nào đang thống trị trên lãnh thổ mình sống. Trước, ai ở vùng đất Mạc thì tham gia kỳ thi của triều Mạc, ai ở vùng đất Lê thì tham dự kỳ thi do triều Lê tổ chức, mà sau, thì chúa Nguyễn, chúa Trịnh (dưới danh nghĩa nhà Lê) cùng đều đặn tổ chức các kỳ thi tìm người bổ sung vào bộ máy quản lý của mình.
Cũng có người “chuyên vùng” để ứng thí, như dạng Phùng Khắc Khoan, tuy số người này thực cũng không đông. 14 Mặc dù cũng từng là môn sinh cửa Không sân Trình, một số người — và số này, tuy số lượng không nhiều, nhưng lại thường là những nhân vật xuất sắc — không lựa chọn quyết liệt con đường khoa cử để cầu công danh, phú quý. Họ chủ động nhận định về thời cuộc, đi xa hơn ra khỏi khuôn sáo của lẽ phải thông thường, tính toán đến thực tế đang diễn ra trước mắt chứ không chỉ quy chiếu vào điều cần phải, chọn cho mình một lối ứng xử khác. Tham nhuan Bắc sử, họ cũng biết được rằng, trong lịch sử Trung Quốc đã bao phen diễn ra thực tế này.
Các mô hình ứng xử của các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc thường được đem ra luận bàn, lựa chọn cho một sự mô phỏng. Cao hơn thế, họ tìm cho mình một cách thức riêng, tuy về khách quan vẫn chưa vượt ra ngoài các khả năng ứng xử đã biết, nhưng đã định hướng tới việc vượt qua khỏi những lăn ranh giới đang có. Phản ánh đậm nét định hướng phát triển đó trong văn chương chính là hình ảnh người anh hùng thời loạn, một nhân vật đặc biệt hap dẫn, mà rat tiếc từ trước tới nay vì nhiều nguyên nhân khác nhau đã bị giới nghiên cứu cả trong lẫn ngoài nước bỏ quên. Lần đầu tiên trong công trình của mình, chúng tôi muốn dành một sự chú ý đúng mức cho loại hình nhân vật này.
Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về người anh hùng dé sư, nhưng những nghiên cứu về người hào kiệt tự nhiệm của giáo sư Trần Đình Hượu cũng đề cập đến nhiều thuộc tính tương đồng với người dé sư trong truyền thống. Hay nói như ông Trần Ngọc Vương, người hào kiệt tự nhiệm là sự tiếp biến của mẫu người anh hùng thời loạn đã có từ trước. “Theo giáo sư Trần Đình Hượu giữa thế kỷ XIX khi cả dân tộc thất bại đau đớn trước những kẻ “mọi ro phương Tây”, nhiều nhà nho đã bắt đầu hoài nghỉ dao lý thánh hiền. Tư tưởng khá phổ biến trong các nhà nho là thấy cần con người anh hùng có tài hơn người thánh hiền chỉ có đức, cần người tự nhiệm hành động hơn là những người khiêm can phục tùng.
Trong tâm trí, Phan Bội Châu luôn luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh người hào kiệt. Hào kiệt là người không tầm thường, hơn người, khác người xung quanh có thể vì đức, vì tài hay vì công nghiệp. Hào kiệt bao gồm cả thánh hiền và anh hùng. Tùy theo sự đòi hỏi của thời đại mà người 15 hào kiệt được hình dung theo hướng người thánh hiền có đức hay người anh hùng có tài.
Người hào kiệt mà Phan Bội Châu ấp ủ hồi còn trẻ mang tư tưởng trung nghĩa nên chưa tìm sự phân biệt với người thánh hiền. Tuy nhiên sắc thái đã khác trước! Thánh hiền xét về mặt phâm chat dao đức hay trung nghĩa, xét về mặt kết quả hành động là người, tuy cùng đem hết tâm trí tài năng ra làm việc đời, nhưng họ hành động theo chức năng, theo cương vi, theo đạo lý, họ cũng cần tính toán, nhưng tài trí tính toán là dé thực hiện mệnh vua, mệnh trời, giữ đúng đạo lý. Họ vì nghĩa chứ không thị tai. Họ có cá tính rõ rệt, rất tự hào về mình nhưng hành động không lay bản thân mình làm xuất phát điểm, không lay cá nhân làm trung tâm.
Trong xã hội phong kiến nó đối lập với cái đa tài, cái thị tài của người tài tử. Nó cá nhân hơn, có ý thức về mình, tự hào về tài trí, tuy rằng nó vẫn khác han người tài tử trong quan niệm về cuộc đời. Đối với người hào kiệt như vậy, nước Ngô, nước Việt, vua Hán vua Hàn tuy vẫn có những quan hệ phải giải quyết theo nghĩa, nhưng đó cũng là những vật, những chỗ, những tình huống cho họ trổ tài thu xếp, sắp đặt. Tài trí không chi là hiểu biết mà là cơ mưu.
Họ cũng còn hành động theo phận sự nhưng phận sự đó biến thành suy nghĩ, tình cảm riêng, thành những nỗi giận lớn, những mối thù lớn, tính toán lớn của riêng họ mà họ nuôi dưỡng, nung nấu trong hàng chục năm. Người hào kiệt tự nhiệm tự tin đứng lên trên cao, hành động theo chí lớn của mình. Nét đặc sắc ở họ không phải là những tim gan trung nghĩa văng vic như mặt trăng, mặt trời ma là những hoai bão lớn lao, mưu đồ sâu sắc, kín đáo ít người hiểu nỗi. Họ là những cá nhân - không phải cá nhân chủ nghĩa tư sản nhưng không còn chỉ là cha, là con, là vua, là tôi nữa.
Trên đây cơ hồ là tat cả những nghiên cứu về người anh hùng dé sư ở Việt Nam. Những chỉ dẫn về điều kiện ra đời của nhân vật dé sư, đặc điểm của ho sẽ là những gợi ý quan trọng dé luận án tiếp tục hoàn thiện những nghiên cứu về mẫu người này. Trong khi triển khai, luận án sẽ tiếp thu những luận điểm này, đồng thời đi sâu chỉ ra nhiều vấn đề khác liên quan đến mẫu hình này: như cội nguồn tư tưởng mau hình, đặc sắc mâu hình, câu trúc tư tưởng mẫu người nay. Lịch sử nghiên cứu Trương Lương 7.
Lịch sử nghiên cứu Trương Lương ở Trung Quốc 7. Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại chuyên chế Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại chuyên chế chủ yếu xuất hiện dưới dạng những lời bình của các sử gia và những bình, vịnh, luận trong trước tác thị, từ, luận, phú. Tư Mã Thiên trong Sử ký: “Các học giả phần nhiều nói rằng không có quỷ thần. Nhưng lại nói rằng có tinh quái, đến như cụ già cho sách mà Lưu Hau gặp thi cũng thực là lạ.
Cao Tổ nhiều lần bị nguy khốn, thường nhờ ở công sức của Lưu Hầu, có thê nói là không có trời sao! Nhà vua nói: Bày mưu kế ở trong màn trướng, quyết định sự thang lợi ở ngoài ngàn dam, ta không bằng Tử Phòng. Tôi cho ông ta phải là người khôi ngô, lạ lùng lắm! Đến khi nhìn tranh, thấy ông ta mặt mũi như một người con gái đẹp! Không Tử nói: “Xét người bằng nét mặt thì sẽ lầm Tử Vũ”. Lưu Hầu cũng thế” [156, tr. Ban Có cũng lặp lại Tư Mã Thiên trong Hán Thư: “Nghe Trương Luong là người dũng khí, cho rằng ông ta diện mạo kỳ khôi, ai ngờ tựa như phụ nữ.
Không Tử noi “Xét người mà bang nét mặt sẽ lam Tử Vũ”. Các học giả hoài nghỉ là có quỷ than, nhu Trương Lương nhận sách, kỳ lạ lắm sao. Hán Cao Tổ thường nguy khốn, nhờ công sức Trương Lương, có thé nói không có trời sao” [Hán Thư, quyển 40, tr. Tư Mã Quang trong Tự tri thông giám viết: “Trời sinh ra con người có sống có chết, cũng như trời có đêm có ngày, đó là một điều rất tự nhiên, không thể chống cự lại được.
Từ cổ chí kim, chưa ai thoát ra khỏi quy luật đó dé tồn tại một mình trên đời cả. Với tài ăn nói thấu tình đạt lý của Tử Phòng, tất nhiên biết chuyện thần tiên chỉ là chuyện mù mờ không có thực, nhưng ông lại bảo mình đi theo Xích Tùng Tử để chu du khắp thiên hạ, cho thấy ông đúng là người thông minh, khôn khéo. Phải xem công danh như thé nào, chính là một van đề khó xử nhất của người làm bề tôi. Trong số tam kiệt được Hán Cao Tổ khen tặng, Hoài Âm Hầu Hàn Tín bị giết, Thừa tướng Tiêu Hà bị tống giam vào ngục, điều đó chăng phải họ sau khi được công to mà không biết dừng bước đấy sao?