Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu hình mẫu nhân vật đế sư trong văn học Trung Quốc và Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích hình mẫu nhân vật đế sư trong văn học, khảo sát tư liệu Trung Quốc và Việt Nam, góp phần làm rõ đặc trưng văn hóa.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2014

218
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của luận án

1.6. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: MẠY VĂN ĐẾ LÝ THUYẾT; NHỮNG CƠ SỞ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, XÃ HỘI VÀ CỘI NGUỒN, ĐẶC ĐIỂM, CẤU TRÚC TƯ TƯỞNG NHÂN VẬT ĐẾ SƯ

2. CHƯƠNG 2: TRƯƠNG LƯƠNG: TỪ NHÂN VẬT LỊCH SỬ ĐẾN HÌNH TƯỢNG VĂN HỌC

2.1. Sơ lược tiểu sử và sự nghiệp Trương Lương

2.2. Diễn hóa Trương Lương nhìn từ hình tượng văn học

3. CHƯƠNG 3: NHÌN SÂU HƠN CẢM HỨNG HÌNH TƯỢNG ĐẾ SƯ TRƯƠNG LƯƠNG TRONG TÂM THỨC NHÀ NHO VÀ DẤU ẤN CỦA HÌNH TƯỢNG NÀY TRONG HÀNH XỬ CHÍNH TRỊ CỦA HỌ

3.1. Nhìn sâu hơn cảm hứng hình tượng đế sư Trương Lương trong tâm thức nhà nho

3.2. Dấu ấn của hình tượng Trương Lương trong hành xử chính trị của các nhà nho

3.3. Cội nguồn ám ảnh của hình tượng đế sư Trương Lương trong tâm thức nhà nho (khía cạnh phẩm chất đế sư của Trương Lương)

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nhân vật đế sư

Nhân vật đế sư là một hình tượng văn học đặc sắc trong lịch sử văn học Trung QuốcViệt Nam. Hình tượng này không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa mà còn thể hiện những khát vọng, lý tưởng của các nhà nho. Đặc biệt, hình tượng đế sư thường được gắn liền với những nhân vật lịch sử như Trương Lương, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm thức của các nhà nho. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cấu trúc nghệ thuật và mỹ học của hình tượng đế sư, từ đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong diễn hóa của hình tượng này giữa hai nền văn học. Hình tượng đế sư không chỉ là một nhân vật đơn thuần mà còn là biểu tượng cho những giá trị tư tưởng, chính trị của thời đại.

1.1. Đặc điểm của nhân vật đế sư

Nhân vật đế sư thường mang trong mình những phẩm chất đặc biệt, thể hiện sự thông minh, tài năng và khả năng lãnh đạo. Họ không chỉ là những người thầy mà còn là những người có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng định hướng cho các nhà lãnh đạo. Hình tượng này thường được xây dựng dựa trên những nhân vật lịch sử có thật, như Trương Lương, người đã giúp Hán Cao Tổ xây dựng triều đại Hán. Sự hiện diện của đế sư trong văn học không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa mà còn là sự phản ánh những khát vọng của con người trong việc tìm kiếm một hình mẫu lý tưởng trong xã hội.

II. So sánh văn học Trung Quốc và Việt Nam

Việc so sánh hình tượng đế sư trong văn học Trung QuốcViệt Nam cho thấy sự tương đồng và khác biệt rõ rệt. Trong khi hình tượng này ở Trung Quốc thường gắn liền với những nhân vật lịch sử nổi tiếng và được xây dựng qua nhiều tác phẩm văn học, thì ở Việt Nam, hình tượng đế sư lại mang một sắc thái riêng, phản ánh những đặc điểm văn hóa và xã hội của đất nước. Các tác phẩm văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến XIX đã thể hiện rõ nét sự ám ảnh của hình tượng đế sư trong tâm thức của các nhà nho, đặc biệt là trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi và Phan Bội Châu. Sự khác biệt này không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở cách thức thể hiện và cảm hứng sáng tác.

2.1. Hình tượng đế sư trong văn học Trung Quốc

Trong văn học Trung Quốc, hình tượng đế sư thường được xây dựng qua các tác phẩm nổi tiếng như Hán Thư và Tư Mã Thiên. Những tác phẩm này không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử mà còn thể hiện những giá trị tư tưởng sâu sắc của thời đại. Hình tượng đế sư ở đây không chỉ là một nhân vật lịch sử mà còn là biểu tượng cho những lý tưởng cao đẹp, thể hiện sự khát vọng của con người về một xã hội công bằng và thịnh vượng.

2.2. Hình tượng đế sư trong văn học Việt Nam

Ngược lại, trong văn học Việt Nam, hình tượng đế sư được thể hiện qua các tác phẩm của các nhà nho như Nguyễn Trãi và Phan Bội Châu. Họ không chỉ khắc họa hình tượng đế sư mà còn thể hiện những khát vọng chính trị và xã hội của dân tộc. Hình tượng này không chỉ là một nhân vật lý tưởng mà còn là một biểu tượng cho những giá trị văn hóa và tinh thần của người Việt, phản ánh những khát vọng tự do và độc lập trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

III. Phân tích và đánh giá giá trị của hình tượng đế sư

Hình tượng đế sư không chỉ có giá trị văn học mà còn mang lại những bài học quý giá cho thế hệ sau. Qua việc phân tích hình tượng này, có thể thấy được những giá trị tư tưởng, chính trị và văn hóa mà nó mang lại. Hình tượng đế sư không chỉ là một nhân vật trong văn học mà còn là một biểu tượng cho những khát vọng và lý tưởng của con người. Việc nghiên cứu hình tượng này giúp hiểu rõ hơn về tâm tư, tình cảm và những giá trị mà các nhà nho đã gửi gắm qua các tác phẩm của họ.

3.1. Giá trị văn hóa và xã hội

Hình tượng đế sư thể hiện những giá trị văn hóa và xã hội sâu sắc, phản ánh những khát vọng của con người về một xã hội công bằng và thịnh vượng. Nó không chỉ là một nhân vật lý tưởng mà còn là một biểu tượng cho những giá trị tinh thần của dân tộc. Qua hình tượng này, người đọc có thể cảm nhận được những nỗi niềm, khát vọng và lý tưởng của các nhà nho trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu hình tượng đế sư có thể được áp dụng trong việc giáo dục và truyền bá những giá trị văn hóa, tư tưởng cho thế hệ trẻ. Hình tượng này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa của dân tộc mà còn là nguồn cảm hứng cho những khát vọng và lý tưởng sống tốt đẹp. Việc tìm hiểu và nghiên cứu hình tượng đế sư sẽ góp phần làm phong phú thêm nền văn học và văn hóa Việt Nam.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu dùng thuật ngữ dé sw với ý nghĩa là một thuật ngữ khoa học chỉ một loại hình nhân cách trong lịch sử tư tưởng, lịch sử văn hoá khu vực. Vi là người có ý thức quan tâm sớm nhất về vấn đề này, nên ông cũng là người tiên phong chỉ ra ở những nét phác thảo nhất đặc điểm của mẫu hình nhân cách văn hóa này. 13 Trước tiên, theo ông, người anh hing dé sư là một “tiêu loại” trong tip lớn hơn là người anh hùng thời loạn. Người anh hùng thời loạn gồm: anh hùng tạo thời thé (anh hùng sáng nghiệp) và dé sư.

“Vé phần mình, chúng tôi muốn nói thêm rang người hào kiệt như ở Phan Bội Châu là sự tiếp biến của mẫu người anh hùng thời loạn trong bối cảnh lịch sử thay đổi. Trước kia, đã từng tồn tại hai “tiêu loại” người anh hùng thời loạn; đó là người anh hùng tạo thời thế (anh hùng sáng nghiệp) và “đế su” [211, tr. Đồng thời ông cũng chỉ ra những điều kiện lịch sử xuất hiện người anh hùng thời loạn. “Cả hai tiểu loại anh hùng thời loạn này đều thường xuất hiện và phát triển trong bối cảnh xã hội rối loạn, triều đại chính thống đã rệu rã, sụp đô hay bị đánh đồ, mà triều đình chính thống mới lại chưa ra đời hoặc còn tồn tại lay at.

Chính vì thiếu văng cái chính thống, mà trật tự kỷ cương trở nên không rõ ràng. Vang thiếu cái chính thống, người ta mới đua nhau ty khang định, tự trở thành. Dich cuối cùng của người anh hùng thời loạn là xác lập nên cái chính thống mới và cùng với điều đó, họ trở thành những người tạo thời thế, lưu danh sử sách như là những người tác động biến đổi lich sử. Đi sâu hơn vào tiểu loại anh hùng dé sư, ông tiếp tục chỉ ra những điều kiện xuất hiện những lựa chọn của mẫu người này trong thời loạn — “Đội ngũ trí thức — nhà nho trước một thực tế đất nước “ba bè bay bối” đến dường kia, trước ngã năm ngã bảy của cuộc đời, tự nhiên rơi vao tình huống buộc phải lựa chọn.

Tùy theo hoàn cảnh cụ thể riêng của mỗi người mà sự lựa chọn ấy dẫn đến những số phận khác nhau, định hướng cuộc đời khác nhau, và cuối cùng, là những kết quả khác nhau. Tuy nhiên, có những nét chung làm nền cho sự lựa chọn ấy. Số đông làm theo sự an bài đang tiếp diễn của số phận, không mấy băn khoăn về sự khác biệt giữa vua và chúa, vẫn hăm hở học hành, quyết khoa, xuất chính, phụng sự cho thế lực chính trị nào đang thống trị trên lãnh thổ mình sống. Trước, ai ở vùng đất Mạc thì tham gia kỳ thi của triều Mạc, ai ở vùng đất Lê thì tham dự kỳ thi do triều Lê tổ chức, mà sau, thì chúa Nguyễn, chúa Trịnh (dưới danh nghĩa nhà Lê) cùng đều đặn tổ chức các kỳ thi tìm người bổ sung vào bộ máy quản lý của mình.

Cũng có người “chuyên vùng” để ứng thí, như dạng Phùng Khắc Khoan, tuy số người này thực cũng không đông. 14 Mặc dù cũng từng là môn sinh cửa Không sân Trình, một số người — và số này, tuy số lượng không nhiều, nhưng lại thường là những nhân vật xuất sắc — không lựa chọn quyết liệt con đường khoa cử để cầu công danh, phú quý. Họ chủ động nhận định về thời cuộc, đi xa hơn ra khỏi khuôn sáo của lẽ phải thông thường, tính toán đến thực tế đang diễn ra trước mắt chứ không chỉ quy chiếu vào điều cần phải, chọn cho mình một lối ứng xử khác. Tham nhuan Bắc sử, họ cũng biết được rằng, trong lịch sử Trung Quốc đã bao phen diễn ra thực tế này.

Các mô hình ứng xử của các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc thường được đem ra luận bàn, lựa chọn cho một sự mô phỏng. Cao hơn thế, họ tìm cho mình một cách thức riêng, tuy về khách quan vẫn chưa vượt ra ngoài các khả năng ứng xử đã biết, nhưng đã định hướng tới việc vượt qua khỏi những lăn ranh giới đang có. Phản ánh đậm nét định hướng phát triển đó trong văn chương chính là hình ảnh người anh hùng thời loạn, một nhân vật đặc biệt hap dẫn, mà rat tiếc từ trước tới nay vì nhiều nguyên nhân khác nhau đã bị giới nghiên cứu cả trong lẫn ngoài nước bỏ quên. Lần đầu tiên trong công trình của mình, chúng tôi muốn dành một sự chú ý đúng mức cho loại hình nhân vật này.

Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về người anh hùng dé sư, nhưng những nghiên cứu về người hào kiệt tự nhiệm của giáo sư Trần Đình Hượu cũng đề cập đến nhiều thuộc tính tương đồng với người dé sư trong truyền thống. Hay nói như ông Trần Ngọc Vương, người hào kiệt tự nhiệm là sự tiếp biến của mẫu người anh hùng thời loạn đã có từ trước. “Theo giáo sư Trần Đình Hượu giữa thế kỷ XIX khi cả dân tộc thất bại đau đớn trước những kẻ “mọi ro phương Tây”, nhiều nhà nho đã bắt đầu hoài nghỉ dao lý thánh hiền. Tư tưởng khá phổ biến trong các nhà nho là thấy cần con người anh hùng có tài hơn người thánh hiền chỉ có đức, cần người tự nhiệm hành động hơn là những người khiêm can phục tùng.

Trong tâm trí, Phan Bội Châu luôn luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh người hào kiệt. Hào kiệt là người không tầm thường, hơn người, khác người xung quanh có thể vì đức, vì tài hay vì công nghiệp. Hào kiệt bao gồm cả thánh hiền và anh hùng. Tùy theo sự đòi hỏi của thời đại mà người 15 hào kiệt được hình dung theo hướng người thánh hiền có đức hay người anh hùng có tài.

Người hào kiệt mà Phan Bội Châu ấp ủ hồi còn trẻ mang tư tưởng trung nghĩa nên chưa tìm sự phân biệt với người thánh hiền. Tuy nhiên sắc thái đã khác trước! Thánh hiền xét về mặt phâm chat dao đức hay trung nghĩa, xét về mặt kết quả hành động là người, tuy cùng đem hết tâm trí tài năng ra làm việc đời, nhưng họ hành động theo chức năng, theo cương vi, theo đạo lý, họ cũng cần tính toán, nhưng tài trí tính toán là dé thực hiện mệnh vua, mệnh trời, giữ đúng đạo lý. Họ vì nghĩa chứ không thị tai. Họ có cá tính rõ rệt, rất tự hào về mình nhưng hành động không lay bản thân mình làm xuất phát điểm, không lay cá nhân làm trung tâm.

Trong xã hội phong kiến nó đối lập với cái đa tài, cái thị tài của người tài tử. Nó cá nhân hơn, có ý thức về mình, tự hào về tài trí, tuy rằng nó vẫn khác han người tài tử trong quan niệm về cuộc đời. Đối với người hào kiệt như vậy, nước Ngô, nước Việt, vua Hán vua Hàn tuy vẫn có những quan hệ phải giải quyết theo nghĩa, nhưng đó cũng là những vật, những chỗ, những tình huống cho họ trổ tài thu xếp, sắp đặt. Tài trí không chi là hiểu biết mà là cơ mưu.

Họ cũng còn hành động theo phận sự nhưng phận sự đó biến thành suy nghĩ, tình cảm riêng, thành những nỗi giận lớn, những mối thù lớn, tính toán lớn của riêng họ mà họ nuôi dưỡng, nung nấu trong hàng chục năm. Người hào kiệt tự nhiệm tự tin đứng lên trên cao, hành động theo chí lớn của mình. Nét đặc sắc ở họ không phải là những tim gan trung nghĩa văng vic như mặt trăng, mặt trời ma là những hoai bão lớn lao, mưu đồ sâu sắc, kín đáo ít người hiểu nỗi. Họ là những cá nhân - không phải cá nhân chủ nghĩa tư sản nhưng không còn chỉ là cha, là con, là vua, là tôi nữa.

Trên đây cơ hồ là tat cả những nghiên cứu về người anh hùng dé sư ở Việt Nam. Những chỉ dẫn về điều kiện ra đời của nhân vật dé sư, đặc điểm của ho sẽ là những gợi ý quan trọng dé luận án tiếp tục hoàn thiện những nghiên cứu về mẫu người này. Trong khi triển khai, luận án sẽ tiếp thu những luận điểm này, đồng thời đi sâu chỉ ra nhiều vấn đề khác liên quan đến mẫu hình này: như cội nguồn tư tưởng mau hình, đặc sắc mâu hình, câu trúc tư tưởng mẫu người nay. Lịch sử nghiên cứu Trương Lương 7.

Lịch sử nghiên cứu Trương Lương ở Trung Quốc 7. Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại chuyên chế Lịch sử nghiên cứu Trương Lương trong thời đại chuyên chế chủ yếu xuất hiện dưới dạng những lời bình của các sử gia và những bình, vịnh, luận trong trước tác thị, từ, luận, phú. Tư Mã Thiên trong Sử ký: “Các học giả phần nhiều nói rằng không có quỷ thần. Nhưng lại nói rằng có tinh quái, đến như cụ già cho sách mà Lưu Hau gặp thi cũng thực là lạ.

Cao Tổ nhiều lần bị nguy khốn, thường nhờ ở công sức của Lưu Hầu, có thê nói là không có trời sao! Nhà vua nói: Bày mưu kế ở trong màn trướng, quyết định sự thang lợi ở ngoài ngàn dam, ta không bằng Tử Phòng. Tôi cho ông ta phải là người khôi ngô, lạ lùng lắm! Đến khi nhìn tranh, thấy ông ta mặt mũi như một người con gái đẹp! Không Tử nói: “Xét người bằng nét mặt thì sẽ lầm Tử Vũ”. Lưu Hầu cũng thế” [156, tr. Ban Có cũng lặp lại Tư Mã Thiên trong Hán Thư: “Nghe Trương Luong là người dũng khí, cho rằng ông ta diện mạo kỳ khôi, ai ngờ tựa như phụ nữ.

Không Tử noi “Xét người mà bang nét mặt sẽ lam Tử Vũ”. Các học giả hoài nghỉ là có quỷ than, nhu Trương Lương nhận sách, kỳ lạ lắm sao. Hán Cao Tổ thường nguy khốn, nhờ công sức Trương Lương, có thé nói không có trời sao” [Hán Thư, quyển 40, tr. Tư Mã Quang trong Tự tri thông giám viết: “Trời sinh ra con người có sống có chết, cũng như trời có đêm có ngày, đó là một điều rất tự nhiên, không thể chống cự lại được.

Từ cổ chí kim, chưa ai thoát ra khỏi quy luật đó dé tồn tại một mình trên đời cả. Với tài ăn nói thấu tình đạt lý của Tử Phòng, tất nhiên biết chuyện thần tiên chỉ là chuyện mù mờ không có thực, nhưng ông lại bảo mình đi theo Xích Tùng Tử để chu du khắp thiên hạ, cho thấy ông đúng là người thông minh, khôn khéo. Phải xem công danh như thé nào, chính là một van đề khó xử nhất của người làm bề tôi. Trong số tam kiệt được Hán Cao Tổ khen tặng, Hoài Âm Hầu Hàn Tín bị giết, Thừa tướng Tiêu Hà bị tống giam vào ngục, điều đó chăng phải họ sau khi được công to mà không biết dừng bước đấy sao?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu nhân vật đế sư trong văn học: So sánh giữa Trung Quốc và Việt Nam" mang đến cái nhìn sâu sắc về hình tượng nhân vật đế sư trong văn học hai nước, từ đó làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong cách xây dựng nhân vật này. Qua việc phân tích các tác phẩm tiêu biểu, bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về văn hóa và tư tưởng của mỗi quốc gia mà còn mở ra những góc nhìn mới về vai trò của nhân vật đế sư trong bối cảnh lịch sử và xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh khác trong văn học, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ chất liệu khẩu ngữ trong văn xuôi những năm gần đây, nơi khám phá sự phát triển của ngôn ngữ trong văn học hiện đại. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ cái say trong thơ nguyễn khuyến sẽ giúp bạn hiểu thêm về hình ảnh và biểu tượng trong thơ ca Việt Nam. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ đề tài chiến tranh trong thơ phạm tiến duật hữu thỉnh nguyễn đức mậu từ 1965 đến nay sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về chủ đề chiến tranh trong văn học, một chủ đề quan trọng trong cả văn học Trung Quốc và Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong văn học.